Page 238 - TÁM DANH, BẢY NHIÊU, ĐIÊU THUYỂN, QUỐC THANH, CHÍ SINH
P. 238
Để hấp dẫn người xem, tác giả sử dụng một số' bài bản:
Bắc, Nam, Vọng cổ, kể cả ngâm thơ. Các bài như: Đăng sơn
lâm thủy, Phú lục, Ngựa ô Nam, Lưu thủy trường, Tô võ mục dương,
Khúc ca hoa chúc, Khúc ca đoàn viên. Tác giả mạnh dạn sử dụng
5 câu vọng cổ, hơi nhiều so với một chập cải lương, nhưng đã
đáp ứng sự yêu thích của khán giả. Các câu vọng cổ phù hợp với
đoạn diễn, mang tính trữ tình, vừa đượm tình nghĩa ái ân, vừa
mang tâm lý vì sự tồn vong của đất nước.
Ví dụ câu 5:
“Trương Thị: Tình ta hương đang đượm, lửa đang nồng, dù
cho cách trở núi sông, câu ái ân em nguyện vẹn gìn chung thủy,
nhớ nhau chúng ta đồng lo tròn nhiệm vụ để rút ngắn chuỗi ngày
đau khổ của toàn dân.
Ngày mai hết họa ngoại xâm
Anh về dưới mái nhà tranh em chờ
Chúng ta nối lại hương thề
Tràn đầy hạnh phúc, thôn quê thanh bình."
Trong một chập cải lương ngắn tác giả cũng sử dụng một số
lớp bài Bắc, Nam như: Phú lục, Lưu thủy trường, Ngựa ồ Nam...
Tùy theo hành động và tình cảm của nhân vật mà viết bài ca
phù hợp. Những đoạn phân trần giữa Hưng Đạo Đại Vương,
Phạm Ngũ Lão và Trương Thị, tác giả sử dụng bài Ngựa ô Nam.
Đoạn vui tươi, tác giả sử dụng bài Khúc ca hoa chúc hay
Khúc ca đoàn viên để kết thúc kịch.
Trong lời ngâm, tác giả viết rất mềm mại, trữ tình, mang
chất thơ, chất văn học, giữa Trương Thị và Phạm Ngũ Lão như:
“Trương Thị: Phạm Lang! Chàng có nghe thấy gì không?
236

