Page 73 - TÁM DANH, BẢY NHIÊU, ĐIÊU THUYỂN, QUỐC THANH, CHÍ SINH
P. 73
Từ năm 1954 - 1956, giai đoạn này hoạt động cải lương
cách mạng ở miền Bắc hầu như không có gì đáng kể, trừ một vài
đoàn tư nhân ở thủ đô còn hoạt động cầm chừng như: Chuông Vàng,
Kim Phụng. Các Đoàn Cửu Long, Đoàn Van công Phân liên khu
miền Đông, Đoàn Ngũ Yến (Khu 8) tập kết ra Bắc vẫn còn hình
thức biểu diễn như một chương trình nghệ thuật tổng hợp, thường là
những tiết mục ca lẻ, múa và một vở kịch ngắn. Thể loại cải lương
chỉ sử dụng vài bản Bắc. Cho đến khi Bộ Văn hóa tổ chức Đại hội
văn công toàn quốc, năm 1956 thì Tám Danh cũng chưa có vai trò gì,
chưa dược phân công gì, khiến ông buồn nản, có lúc muôn xin
nghĩ việc, đi hớt tóc dạo kiếm sống - (Nhật ký Tám Danh -1957).
Sau đợt học tập cải cách ruộng đất, các đoàn nghệ thuật được
sắp xếp lại: lực lượng nghệ sĩ cải lương thì tập trung củng cố để
thành lập Đội (sau này lên Đoàn) cải lương Nam bộ. Tám Danh được
phân công Phó đội, chỉ đạo nghệ thuật, Chi ủy viên Chi bộ.
Trong một lần được đồng chí Tô' Hữu trực tiếp chỉ đạo, động
viên ông xây dựng một “Đoàn cải lương mẫu” - Tám Danh phấn
khởi, bắt đầu một đoạn đời mới: ra sức xây dựng và phát triển một
nền cải lương cách mạng, kết hợp giữa “cũ” và “mđi”. Thế rồi,
nhiều vở cải lương được ông và các đồng nghiệp thể nghiêm
thành công như: Phụng Nghi Đĩnh, Mầu Đơn Tiên, Dệt gấm,
Người con gái Đất Đỏ, Máu thắm đồng Nọc Nạn... uy tín nghề nghiệp
của Tám Danh từ đó càng được nâng lên. Đến khi ông đúc kết,
xây dựng hệ thống vũ đạo cải lương và trực tiếp giảng dạy ở
Trường ca kịch dân tộc, thì sự nghiệp của ông đã được khẳng định:
Một nghệ nhân hàng đầu của sân khấu cải lương Nam bộ trong
chế dô cũ, giác ngộ cách mạng tham gia kháng Pháp; là một
đạo diễn tài năng đàn anh; một bậc thầy đang đảm nhận đào tạo
71

