Page 134 - TÁM DANH, BẢY NHIÊU, ĐIÊU THUYỂN, QUỐC THANH, CHÍ SINH
P. 134
- Đêm khai trương tuồng Người vợ nhà tôi mồng một Tết
năm 1941 tại rạp Thủ Dầu Một (Bình Dương) rất đắt khách, chủ
rạp mua giàn 4 đêm. Từ đó, Nam Phương như “trúng sô'”, hát đâu
thắng đó, thuận đà gánh đi hát khắp Nam kỳ. rồi thẳng đường kéo
ra miền Trung: từ cao nguyên Đà Lạt tới Phan Thiết, Qui Nhơn, ra
Thanh Hóa, Nam Định, Hà Nội, Hải Phòng. Bốn tháng ở miền Bắc,
Nam Phương được khán giả hết sức ủng hộ, gánh hốt bạc không thể
tưởng tượng được (theo hồi ký Bảy Nhiêu).
Cuối năm 1942, gánh ra Hà Nội diễn nhiều tháng vẫn còn
đắt khách, đoàn lừ Bắc trở về diễn ở miền Trung, cao nguyên và
miền Nam với kết quả tài chính dồi dào. Bảy Nhiêu trả hết món nợ
năm ngàn đồng cho Bà Bảy N, lại còn dư một sô' vô'n đáng kể.
Từ đó, ông tiếp tục cải cách xây dựng gánh Nam Phương về mọi
mặt như một gánh mới: Tranh cảnh luôn rực rỡ, may lại đủ loại
trang phục cho các loại tuồng: lầy, Tàu, Ân Độ, La Mã. Mặt khác
ông sắm xe căm-nhông, ghe chài lớn chở gánh đi lưu diễn.
Nam Phương phất lên vững vàng, nhưng Bảy Nhiêu vẫn không
hài lòng vì xu hướng phức tạp của gánh. Sau này, khi viết hồi ký
Những nỗi vui buồn trong đời đi hát ông tâm sự: “Chúng tôi luôn
xoay chiều, đổi cảnh cho nó sống được thôi, vì tôi thấy tuổi mình
sắp tàn, muốn đưa các anh chị em nghệ sĩ trẻ tuổi lần bước lên
nấc thang nghệ thuật” Nghĩa là ông không mặn mà với kiểu
gánh hát chiều theo sở thích, thị hiếu của khán giả mà giảm đi chất
nghệ thuật.
Có lẽ do suy nghĩ đó, đến năm 1943, ông lại chủ trương gánh
diễn loại tuồng gia đình và xã hội, phản ánh những biến động
của thực tê' cuộc sống. Ông viết và cho tập các vở: Người vợ nhà,
132

