Page 41 - TÁM DANH, BẢY NHIÊU, ĐIÊU THUYỂN, QUỐC THANH, CHÍ SINH
P. 41
Những lần hội diễn sân khấu chuyên nghiệp đầu tiên sau ngày
hòa bình lập lại (năm 1958 - 1962) ông tham gia chủ trì, dàn dựng
thể nghiệm các vở: Người con gái Đất Đỏ, Máu thắm đồng Nọc Nạn
(đều của Phạm Ngọc Truyền) 2 vở đều đạt Huy chương vàng.
Ngoài Đoàn cải lương Nam bộ và Đoàn cải lương Bắc ông còn
giúp các Đoàn cải lương: Kim Phụng, Chuông Vàng (Hà Nội),
Hoa Mai (Hà Tây), Hòn Gai (Quảng Ninh) Đoàn cải lương Hải Phòng,
Đoàn cải lương Liên khu 4...
Sau khi Ban nghiên cứu cải lương hoàn thành nhiệm vụ,
giải thể, năm 1959, Bộ Văn hóa chính thức thành lập Trường
Nghệ thuật ca kịch dân tộc (ngày nay là Trường Đại học Sân khâ'u
Điện ảnh Hà Nội). Tám Danh được chuyển về trường, phụ trách
giảng dạy, lúc này tuổi ông cũng khá cao (gần 60) nhưng vẫn
nỗ lực dốc hết tâm huyết truyền nghề. Ông tổng kết kinh nghiệm
cả cuộc đời đi hát kết hợp với tự học, nghiên cứu nghệ thuật hí kịch
Trung Quốc. Tám Danh đã đúc kết, sắp xếp các phương pháp ca
múa, sáng tạo, biên soạn một công trình để đời: Giáo trình hệ thống
vũ đạo cải lương, sử dụng giảng dạy nhiều thế hệ học trò, sau này
thành danh.
Do tài năng, sự nghiệp to lớn và những cống hiến cho nền
nghệ thuật cách mạng, Tám Danh là một trong những nghệ sĩ Nam
bộ được nhân dân miền Bắc quý trọng, Đảng, Nhà nước khá quan
tâm, ưu ái. Năm 1960, ông được bầu vào Quôc hội khóa II (đơn vị
Quảng Bình). Sau đó, tiếp tục được bầu vào chức vụ Phó Chủ tịch
Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam.
Cả một đời cống hiến cho sự nghiệp sân khấu cải lương, ông đã
nếm trải biết bao thăng trầm; lên tột đỉnh vinh quang và cũng có lúc
39

