Page 40 - TÁM DANH, BẢY NHIÊU, ĐIÊU THUYỂN, QUỐC THANH, CHÍ SINH
P. 40
nổi tiếng từ thành ra chiến khu... Một thời gian sau, Tám Danh và
Ba Du được chuyển lên Phân Liên khu miền Đông.
Do yêu cầu của cách mạng, năm 1952 Tám Danh trở về
Sài Gòn hoạt động trong lòng địch, quan hệ với nghệ sĩ, bè bạn và
đồng nghiệp cũ. Được một thời gian, cuối năm 1952, ông trở ra
chiến khu, được biệt phái về miền Tây (Khu 9) cùng Nguyễn Ngọc
Bạch sáng lập và lãnh đạo Đoàn cửu Long Giang, trực thuộc
Chi hội Văn nghệ Nam bộ.
Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết năm 1954, tại Chắc Băng (Cà Mau)
Tám Danh cùng nhiều văn nghệ sĩ kháng chiến xuống tàu tập kết
ra miền Bắc. Ông mang theo người con trai, còn người con gái gởi
lại thân tộc ở quê nhà làng Nhơn Nghĩa (Cần Thơ).
Thời kỳ kháng chiến chông Pháp, ông được kết nạp vào
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Những năm đầu tập kết ra Bắc, dưới sự lãnh đạo của Bộ
Văn hóa, Tám Danh cùng nhiều nghệ sĩ chủ chốt thành lập hai đội:
Cải lương Nam bộ và Đội kịch nói. Tám Danh giữ nhiệm vụ Đội phó,
Nguyễn Ngọc Bạch làm Đội trưởng. Sau đó, Bộ Văn hóa thành lập
Ban nghiên cứu cải lương, do nhà viết kịch - nhà thơ Thế Lữ làm
Trưởng ban cùng các nghệ sĩ Tám Danh, Ba Du, Triệu An, Ngọc Thới,
Đắc Nhẫn, Ngô Văn Du, Hoàng Tuyển, Thanh Tuyền, Chi Lăng,
Ngọc Cung, Phạm Ngọc Truyền... Đội cải lương Nam bộ sau này
nâng lên “Đoàn” là nơi thể nghiệm nhiều sáng tạo mới, đặc biệt
Tám Danh mạnh dạn dưa vũ đạo vào sân khấu cải lương, qua các
vở: Phụng Nghi Đình, Nàng Tiên Mầu Đơn, Dệt gấm, được dư luận
hoan nghênh, biểu diễn bán vé khá thành công tại thủ đô.
38

