Biển Việt Nam với chiều dài hơn 3.200 km không chỉ là nguồn tài nguyên phong phú mà còn là ngôi nhà của những hệ sinh thái đa dạng và quý giá. Trong đó, các khu bảo tồn biển đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ đa dạng sinh học, duy trì nguồn lợi thủy sản và hỗ trợ sự phát triển bền vững của cộng đồng ven biển. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số, ô nhiễm môi trường biển, đặc biệt là ô nhiễm chất thải nhựa, đang trở thành một thách thức nghiêm trọng, đa dọa đến các khu bảo tồn biển của Việt Nam.
Quyển sách “Chất thải nhựa tại một số khu bảo tồn biển Việt Nam: Ô nhiễm và hệ lụy” do Lê Thị Trinh, Phạm Thị Mai Thảo, Mai Hương Lam biên soạn, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật ấn hành năm 2024 sẽ cung cấp cho bạn đọc những thông tin về thực trạng ô nhiễm nhựa tại các khu bảo tồn biển của Việt Nam, từ đó đánh giá những tác động của chất thải nhựa đến môi trường và cộng đồng, cũng như đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm. Sách có độ dày 200 trang, gồm 04 chương:
Chương 1 giới thiệu tổng quan về chất thải nhựa như khái niệm, vai trò của nhựa đối với con người; phân loại chất thải nhựa (bao gồm 05 loại rác thải nhựa: sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, y tế); đặc tính sinh hóa, thời gian phân hủy của nhựa. Rác thải nhựa ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người và sinh vật, môi trường. Với kích thước nhỏ, nhựa có thể đi vào cơ thể ảnh hưởng tới phổi, gây ra các vấn đề về hô hấp; hoặc hiện tượng kích ứng oxy hóa, tổn hại tế bào, viêm và suy yếu các chức năng phân bổ năng lượng. Theo thống kê củaa Liên hợp quốc, nhiều loại nhựa có chứa hóa chất gây ung thư như DEHP (Diethylhexyl phthalate) hoặc BPA (bisphenol-A), riêng BPA có thể gây rối loạn hormone. Chất thải nhựa là nguyên nhân gây tử vong cho nhiều loài sinh vật biển như rùa, cá heo, cá voi,… Đáng lo ngại là những hạt nhựa siêu vi có trong mỹ phẩm có thể xâm nhập và phá hủy tế bào cơ thể các loài sinh vật biển… Bên cạnh đó, sách đề cập đến tình hình ô nhiễm nhựa tại Việt Nam và trên thế giới cùng các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến chất thải nhựa.
Chương 2 trình bày vai trò và chức năng của các khu bảo tồn biển, thực trạng và thách thức trong quản lý khu bảo tồn biển ở Việt Nam. Theo đó, vai trò quan trọng của các khu bảo tồn biển ở Việt Nam là bảo vệ và bảo tồn đa dạng sinh học biển, khôi phục nguồn lợi thủy sản, phát triển kinh tế bền vững thông qua du lịch sinh thái, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng. Khu bảo tồn biển có chức năng bảo vệ và duy trì hệ sinh thái biển, kiểm soát và giám sát hoạt động khai thác, nghiên cứu và phát triển khoa học, giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng, hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập 16 khu bảo tồn biển, trải dài khắp cá vùng biển từ Bắc xuống Nam, nổi bật là các khu bảo tồn biển: Cù Lao Chàm, Nha Trang, Phú Quốc. Tuy nhiên, thực trạng các khu bảo tồn biển vẫn còn gặp nhiều khó khăn do thiếu hụt nguồn lực tài chính, nhân lực, công tác phối hợp quản lý. Các khu bảo tồn gặp nhiều thách thức trong việc bảo vệ đa dạng sinh học (do tác động của biến đổi khí hậu), thách thức từ các hoạt động khai thác không bền vững. Nhà nước ta cũng đã có các quy định pháp luật liên quan đến các khu bảo tồn biển như Luật Bảo vệ Môi trường (2020), Luật Thủy sản (2017),… tuy nhiên việc quản lý và thực thi pháp luật vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Chương 3 nghiên cứu hiện trạng phát sinh chất thải nhựa tại khu bảo tồn biển Cát Bà (Hải Phòng) và Vịnh Nha Trang (Khánh Hòa) với các nội dung phân tích về hiện trạng phát sinh chất thải nhựa tại các khu vực dân sinh xung quanh, tại khu bảo tồn biển và hiện trạng công tác quản lý và xử lý chất thải nhựa tại các khu bảo tồn biển. Mặc dù cả khu bảo tồn biển Cát Bà và Vịnh Nha Trang đêu đối mặt với ô nhiễm nhựa, nhưng tính chất và quy mô có sự khác biệt. Ở Cát Bà, chất thải nhựa có xu hướng tập trung nhiều tại các sinh cảnh như Cảng cá và vịnh Lan Hạ, nơi có nhiều hoạt động đánh bắt cá và du lịch, với nhựa PVC và PP chiếm tỷ lệ cao nhất. Trong khi đó tại Nha Trang, túi nilon và nhựa sử dụng một lần lại là mối đe dọa chính, do sự phát triển nhanh chóng của du lịch và các hoạt động sinh hoạt đô thị. Cả hai khu vực cần có các biện pháp quản lý toàn diện hơn để kiểm soát hiệu quả lượt chất thải nhựa đang đe dọa nghiêm trọng hệ sinh thái biển.
Chương 4 trình bày nguồn gốc của chất thải nhựa trong môi trường biển ở Việt Nam, tác động của chất thải nhựa đối với sinh vật biển và con người, đối với kinh tế biển, một số giải pháp giảm thiểu tác động của chất thải nhựa đối với môi trường biển. Theo đó, chất thải nhựa gây nguy cơ lớn đối với động vật biển lớn (như cá voi, cá mập, cá heo, các loài chim và đặc biệt là rùa biển). Các rạn san hô và vùng cỏ biển – những khu vực quan trọng cho sinh sản và kiếm ăn của các loài động vật biển - cũng đang bị hủy hoại so sự tích tụ của chất thải nhựa. Vi nhựa tích tụ trong cơ thể sinh vật phù du và tiếp tục lan truyền trong chuỗi thức ăn thông qua quá trình tiêu thụ giữa các loài, gây ảnh hưởng đến ngành công nghiệp thủy sản. Các hệ sinh thái ven bờ như bãi biển và rừng ngập mặn bị ô nhiễm giảm sức hút đối với du khách. Đối với kinh tế, chất thải nhựa tác động lớn đến ngành du lịch biển (các bãi biển mất đi vẻ đẹp tự nhiên, hình ảnh và danh tiếng bị ảnh hưởng), Ngành thủy sản với tình trạng các lô hàng bị nhiễm vi nhựa, bị từ chối xuất khẩu, ảnh hưởng đến doanh thu, nghê nuôi trồng thủy sản,… Từ đó, quyển sách đưa ra có biện pháp pháp lý và chính sách từ cơ quan nhà nước để giảm thiểu tác động của chất thải nhựa đối với môi trường biển, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức của cộng đồng; sáng kiến từ phía doanh nghiệp và du lịch bền vững; phát triển công nghệ xử lý và tái chế nhựa; học hỏi các mô hình quản lý bền vững và thành công từ quốc tế;….
Quyển sách “Chất thải nhựa tại một số khu bảo tồn biển Việt Nam: Ô nhiễm và hệ lụy” sẽ là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến ô nhiễm nhựa và bảo vệ môi trường biển, cũng như là cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và cộng đồng để cùng nhau hành động vì một đại dương không còn rác thải nhựa.
Sách đang được phục vụ tại Thư viện thành phố Cần Thơ. Mời bạn tìm đọc quyển sách với các mã số:
▪ Ký hiệu phân loại: 363.72 / CH124TH
▪ PHÒNG MƯỢN: MA.028840; MA.028841