Page 123 - TÁM DANH, BẢY NHIÊU, ĐIÊU THUYỂN, QUỐC THANH, CHÍ SINH
P. 123
Khi còn ở Ban Nghiên cứu cải lương (thuộc Bộ Văn hóa, ở
miền Bắc cuối thập niên 50 thế kỷ XX) - nhạc sĩ Đắc Nhẫn đã bỏ
công nghiên cứu về sân khâu cải lương, đặc biệt về âm nhạc cải
lương. Sau khi trở về Nam, năm 1987, ông viết quyển Tìm hiểu âm
nhạc cải lương. Trong đó, đề cập khá rõ về bản Hoài tình, phân
tích một cách thâu đáo về học thuật: “Bản Hoài tình, sáng tác của
Huỳnh Năng Nhiêu tức Bảy Nhiêu xuất hiện trên sân khấu cải lương
vào khoảng năm 1937-1938, được quần chúng chấp nhận ngay
(có người nói bài này sáng tác dựa bài Tabou của Pháp). Chúng
tôi nhận thấy có mấy điểm tốt ở bài này:
a/ Giai điệu viết theo ngũ cung biến dạng của dân tộc.
b/ Tiết tấu không xa lạ với nhạc cải lương.
c/Có những chữ nhấn và luyến láy theo phong cách cải lương.
Tính chất kể lể, nài nỉ, kêu vang bộc lộ niềm ẩn trắc:
thường dùng trong trường hợp người đi xin ăn, người mong đợi
một ân huệ ban bố cho mình. Dùng cho mọi giới ở mọi lứa tuổi".
Qua ý kiến nhận xét khách quan nêu trên, cũng là câu trả lời,
vì sao bản nhạc Hoài tĩnh của Bảy Nhiêu có sức sông lâu dài trên
sân khấu.
Còn ý kiến cho rằng, bản Hoài tình dựa theo bản nhạc Tabou
(của Pháp) là không có cơ sở. Bởi lẽ, giai điệu của bài Tabou
“rặt chất nhạc Tầy”, ca lên nghe rõ chất trữ tình mà tươi tắn. Trái lại,
bản Hoài tĩnh thấm dậm chất dân ca Nam bộ, chất nhạc tài tử
cải lương; cũng đậm châ't trữ tình, nhưng trữ tình bi ai, than oán như
soạn giả Viễn Châu và nhạc sĩ Đắc Nhẫn đã phân tích. Sở dĩ có
ý kiến nêu trên, bởi người ta nghe chữ dờn mở đầu của bản
121

