Page 174 - TÁM DANH, BẢY NHIÊU, ĐIÊU THUYỂN, QUỐC THANH, CHÍ SINH
P. 174

của một người bà con bên ngoại, ông Phạm Văn Điều lập gia đình
                  với bà Châu Thị cần (1913 - 1993). Bà Châu Thị cần là con gái
                  ông Huyện Thọ ở Long Phú, Sóc Trăng. Ông Phạm Văn Điều và
                  bà Châu Thị cần sinh ra 2 người con, một trai, một gái. Đó là ông
                  Phạm Vãn Nhã (1937) và bà Phạm Hạnh Nhung (1942). Những năm
                  ông Phạm Văn Điều cộng tác với các gánh hát, Bà Châu Thị cần
                  theo giúp ông lo công việc hậu cần cho diễn viên, công nhân
                  trong đoàn. Ông Phạm Văn Nhã và bà Phạm Hạnh Nhung giúp cha
                  đánh máy các kịch bản và thu tiền tuồng ở các đoàn.
                       Ông Huyện Thọ tuy nhà ở Long Phú nhưng có một số đất
                  ruộng tại Mỹ Xuyên, Sóc Trăng (đồn điền Hưng Thạnh). Từ năm
                  1935-1937 ông Phạm Văn Điều về ở bên quê vợ. Ông được cha vợ
                  giao cho ưông coi việc làm ruộng (cai điền) ở đồn điền Hưng Thạnh.

                       Đến năm 1937, nhận thấy làm cai điền không thích hợp, ông
                  Phạm Văn Điều đưa vợ con về cần Thơ. Ông phụ giúp ông Phạm
                  Văn Son mở hiệu sách, báo lần Dân ở Bến Ninh Kiều, đường Hai
                  Bà Trưng như đã nói ở trên. Ở đây có lần ông suýt bị thực dân Pháp
                  bắt bỏ tù vì chúng nghi ngờ ông có liên lạc với cách mạng. Ồng
                  Phạm Văn Điều phải lánh sang Trà Vinh dạy học một thời gian.

                       Năm 1940, sau cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ, tình hình chính ưị,
                  kinh tế, xã hội... ở cần Thơ và ở nhiều nơi biến động, phức tạp.
                  Năm 1942, ông Phạm Văn Điều lại đưa vợ, con trở về Sóc Trăng.
                  Ông tiếp tục được cha vợ giao làm cai điền ở huyện Mỹ Xuyên.
                       Hai lần làm cai điền này đã giúp ông Phạm Vãn Điều có
                  nhiều thời gian lân la, tìm hiểu cuộc sống, sinh hoạt, lời ăn tiếng nói
                  của những người nông dân người Việt lẫn người Khmer. Họ là những

                  172
   169   170   171   172   173   174   175   176   177   178   179