Page 12 - TÁM DANH, BẢY NHIÊU, ĐIÊU THUYỂN, QUỐC THANH, CHÍ SINH
P. 12
nên không có nhiều dấu ấn quan trọng như hồi đầu thế kỷ XX.
Ở Cần Thơ, thời chông Mỹ địch xây dựng các sân bay, bến cảng
khá sớm, chủ yếu phục vụ quân sự. Từ năm 1945 đến năm 1975,
vùng đất Cần Thơ chỉ có một số phát triển đáng chú ý:
Hệ thông đô thị từ trung lâm tỉnh lỵ đến các huyện lỵ được mở
rộng thêm, với đường giao thông bộ nôì liền; lập các hãng xe đò
chạy đường dài, đường ngắn, cần Thơ vẫn là vựa lúa lớn, với hệ
thống nhà máy xay xát khắp nơi, cũng là đầu mối kinh tế quan
ttọng nhứt ở miền Tầy, mệnh danh Tây Đô. Từ năm 1960, nông
nghiệp Cần Thơ bắt đầu cơ giới hóa với gần 3.000 máy cày, máy
xới. Năm 1966, ở một số nơi nông dân bắt đầu sản xuất lúa “Thần
Nông”, tăng lên 2 vụ/năm. về công nghiệp, từ năm 1966 chế độ cũ
thành lập Khu kỹ nghệ Trà Nóc, xây dựng Nhà máy nhiệt điện Trà
Nóc cung cấp điện cho nhiều tỉnh. Lĩnh vực thương mại có sự phát
triển khá nhanh vơi hàng trăm đại lý mua bán xe mô tô, cơ khí
điện máy... mở ra ở thị xã cần Thơ và các huyện lỵ.
về giáo dục, thời Pháp chỉ có trường ưung học, đến năm 1966
Viện Đại học cần Thơ được thành lập. Bệnh viện Thủ khoa Nghĩa
(nay là Bệnh viện Đa khoa Trung ương) vđi 300 giường được
xây dựng, bên cạnh Bệnh viện Quân y Phan Thanh Giản (nay là
Viện Quân y 121). Song song đó, hệ thông phát thanh truyền hình
mang tính “Trung tâm của vùng 4 chiến thuật” cũng được xây dựng,
sớm đưa vào hoạt động trong năm 1968. Thời gian từ năm 1969 đến
ngày giải phóng miền Nam (30/4/1975), chính quyền Sài Gòn
không đầu tư xây dựng thêm ở cần Thơ những công trình lớn nào
đáng kể, ngoài những cãn cứ quân sự phục vụ chiến tranh.
10

