Page 168 - TÁM DANH, BẢY NHIÊU, ĐIÊU THUYỂN, QUỐC THANH, CHÍ SINH
P. 168

Ông Phạm Vãn Trượng và bà Hồ Thị Cảnh sinh được lOngười
                  con, trong đó có thể kể:
                       Người anh thứ hai: ông Phạm Văn Trọng (1898 - 1979)
                  thuở nhỏ học chữ Nho đến phần nghe sách thì chuyển sang học
                  Quốc ngữ. Ông phải bươn chải nhiều nơi, lúc làm thợ mộc, lúc
                  làm vườn, nuôi vịt... để sinh sông. Ông thích đọc sách và làm thơ.
                  Có lần ông Phạm Văn Trọng đã dẫn đầu xóm thợ mộc đấu tranh
                  với thực dân Pháp đòi giảm sưu thuế. Ông bị bắt giải lên quận
                  nhưng kiên quyết không chịu đi xe, lính áp giải phải đi bộ theo.
                  Ông có sáng kiến vận động anh em thợ mộc ở Xà No thành lập ra
                  hợp tác xã nghề mộc Hiệp Thành. Đến năm 80 tuổi ông vẫn còn
                  lên liếp trồng cam và làm thơ tự trào:

                             “Tám mươi còn sống bao lăm nữa,
                             Cặm cụi thương thân lão bạc đầu".

                        Ông Phạm Văn Cung (1900 -1979) là một thợ mộc rất khéo tay.
                  Chẳng những giỏi về đóng xuồng, ghe, các loại đồ mộc gia dụng:
                   tủ, bàn, ghế... mà còn là một thợ làm nhà được nhiều người trong
                   làng xóm “ưng ý”. Ông cùng ông Hai Trọng là người đảm đương
                  ưại mộc sau khi cha, mẹ qua đời để nuôi nấng các em.
                        Ông Phạm Văn Kiến (1902 - 1991) cũng là người cần cù
                  lao động để cưu mang các em ăn học. Khoảng trước năm 1927,
                  ông phải đi làm cai phu ở đồn điền cao su Tần Uyên (Bình Dương)
                  dành dụm tiền bạc, gửi về cho các em. Sau đó về Xà No cai quản
                  trại mộc của gia đình và trại mộc của hợp tác xã Hiệp Thành.
                  Sau năm 1954, ông tham gia công tác hậu cần của Tỉnh ủy cần Thơ.
                  Ông Phạm Văn Kiến bị ngụy quyền bắt giam 2 lần vào năm 1955
                  và 1959. Lần sau ông bị đưa đi nhà tù Phú Lợi giam giữ đến
                  năm 1962. Ra tù ông tiếp tục hoạt động bí mật đến năm 1975.


                   166
   163   164   165   166   167   168   169   170   171   172   173