Page 205 - TÁM DANH, BẢY NHIÊU, ĐIÊU THUYỂN, QUỐC THANH, CHÍ SINH
P. 205

cho nên ngôn ngữ văn chương mà soạn giả Điêu Huyền sử dụng ở
           đây chính là “lời ăn tiếng nói” của những người nông dân thời ấy.
           Đó là những câu chữ “rặt” tính cách Nam bộ: phủi tay, không có
           đât cặm dùi, gắt mâu, cắt nghĩa đùi, rắn cắn trào đởm, quê rang,
           quê rít, khéo hỏi cơ cầu...
                Ớ đây có thể phân ra thành 2 thứ giọng điệu ngôn ngữ:

                Đốì với tầng lớp nông dân nghèo, lương thiện bị áp bức
           (tâ't nhiên là ít học) thì ngôn ngữ, văn chương được soạn giả
           Điêu Huyền sử dụng râ't phù hợp với lối sống, sinh hoạt, giao tiếp
           của tầng lớp này. Ngay những cái tên nhân vật. Ông đã cũng có
           ngụ ý biểu hiện cái tốt, cái chân chính: Gia đình “Bà Tư Hậu”
           đi đôi với ý nghĩa “sống có hậu”. Những đứa con mang tên “Chơn”,
           “Chất” gắn liền với tính cách mộc mạc, hiền lương. Tên nhân vật
           “Lài” gắn với hương hoa đồng nội, rồi tên anh nông dân “Thừa”
           luôn cay cú, đốì lập với tên của “Hội đồng Dư”
                Đi vào hoàn cảnh, tình huống, xung đột kịch, soạn giả Điêu Huyền
           càng khắc đậm tính cách, hình tượng nhân vật chính diện bằng
           ngôn ngữ văn chương của những người nông dân qua tiếng kêu
           than, sầu thảm:

                - “Có cắn cỏ kêu trời, trời cao không thấu, có than vãn cũng
           không xúc động lòng ai”
                  “Trời ơi! Kiếp trâu cày, ngựa cỡi còn được dành phần nhơi
           ba mớ cỏ. Còn chúng ta cũng dãi dầu nắng mưa, sương gió mà
           phải cam tâm chấp nhận sô’phần đói lạnh, hẩm hiu còn tệ hơn là
           kẻ ăn mày...


                                                                   203
   200   201   202   203   204   205   206   207   208   209   210