Page 210 - TÁM DANH, BẢY NHIÊU, ĐIÊU THUYỂN, QUỐC THANH, CHÍ SINH
P. 210
mđi cho một câu hò nào, mà hoàn toàn sử dụng những lời hò
“nguyên gôc” có tính truyền thống trong dân gian; đã quen thuộc
và in sâu vào nếp sông văn hóa của con người, trải qua bao
thời gian ở Nam bộ.
Có thể nói ngôn ngữ văn chương như là khâu quyết định,
thể hiện được cái hay, cái đẹp và làm nên sức cuốn hút, sự thành
công của kịch bản Tiếng hò sông Hậu. Rõ ràng, cho đến nay sau
nhiều thập niên trình diễn, một sô' ngôn ngữ của các nhân vật trong
kịch bản này đã ưở nên những “thành ngữ”, những “dẫn chứng”
trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử của khá nhiều người. Cụ thể như
chỉ sự ích kỷ, tham lam theo kiểu Hội đồng Dư là: “vét nồi, giũ ống;
chím sắp về sân điền ông Hội là của ông Hội”, dùng cụm từ:
“sầm sầm bặm trợn giống thằng cha Tư Hậu” khi nói về một người
có vóc dáng to lớn...
Từ nội dung sâu sắc của một côi truyện hay, hệ thông
nhân vật với tính cách và hình tượng rõ nét; được thể hiện bằng
ngôn ngữ cải lương “đặc sệt” nông dân, nông thôn Nam Bộ thời
Pháp thuộc, kịch bản Tiếng hò sông Hậu đã được nhiều nhà lý luận,
phê bình sân khấu đánh giá là một tác phẩm sân khấu cải lương
hoàn chỉnh. Chủ đề tư tưởng nổi bật, thể hiện trọn vẹn một
thông điệp khái quát mà soạn giả Điêu Huyền muốn gởi gắm vào đó:
chỉ có đấu tranh mới đẩy lùi được áp bức. Nhưng đấu tranh phải
bằng phương pháp và có sự dẫn dắt, mà vai trò lãnh đạo của
Đảng có tính quyết định. Tiêu biểu cho quan điểm và ý chí đó,
Chơn đã được soạn giả Điêu Huyền xây dựng thành một hình tượng
chủ đạo, chủ lực của sân khâu.
208

