ĐẮC NHẪN (I)

Thứ ba - 05/05/2026 05:50 154 0
Người con của xóm Rạch Điều (Nhạc sĩ kể chuyện đời mình - Phần I)
          Đắc Nhẫn sinh ngày 16/08/1923 tại Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang; mất ngày 14/9/1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
          Ông Nội tôi, từ đất Nghệ An lưu lạc vào trấn Biên Hòa làm ăn sinh sống. Ông theo cuộc khởi nghĩa thất bại, phải tị địa về vùng Ô Môn và sinh con đẻ cái ở đây. Cha tôi giỏi chữ Nho, thường kể cho con cái nghe cảnh bị thực dân Pháp bắt làm xâu. Cha tôi hay đọc sách, tuồng hát bội. Những lúc rỗi rảnh, cha kéo đờn cò và ê a một vài bản trong tuồng hát bội.
          Ông Ngoại tôi, gốc người Triều Châu qua Việt Nam từ đời Mãn Thanh. Ông truyền cho mẹ tôi nghề làm bánh bán cho các tiệm ăn cao lầu. Gia đình tôi sống trên một chiếc ghe chài tạm cư tại chợ Lấp Vò, về sau định cư và cất nhà tại Rạch Điều trên đất Ô Môn. Mẹ kể rằng: Rạch Điều là đường mòn do voi đi lâu ngày thành con rạch, hai bên bờ mọc nhiều cây điều nên gọi là Rạch Điều. Tối tối, chúng tôi thường quây quần bên mẹ để nghe kể truyện Tàu. Chúng tôi bị lôi cuốn bởi những nhân vật đầy nghĩa khí, trung trinh tiết liệt qua giọng kể đều đều và truyền cảm hứng của mẹ tôi.
          Tôi ra đời vào ngày 16 tháng 8 năm 1923, sống và lớn lên ở nhà ông Ngoại sát bờ sông Ô Môn. Là một dòng sông chung của người Việt và người Khmer. Trong những dịp Kỳ yên, lễ hội, người ta thả bè thủy lục, có dàn nhạc lễ dân tộc, đua ghe ngo, hò chèo thuyền. Hằng năm đến mùa gió chướng, bông tra rụng vàng mặt sông, lao xao tiếng khua dầm và giọng hát đối đáp của bà con nông dân gặt mướn ở vùng Đá Nổi, Cái Sắn tận miệt Rạch Giá.
          Lúc 7 tuổi, tôi mượn cây đờn đoản của người láng giềng tập khảy tưng tưng suốt ngày. Tuy các ngón tay còn nhỏ xíu, chưa bấm được các phím đờn. Tôi cũng mò mẫn nhái theo một số bản. Khi lên 8 tuổi, tôi học đờn kìm do chú Hai Cừ dạy. Vỡ lòng là bài Cao Sơn. Lúc bấy giờ, ở nhà cô Tư Phụng thường hay tổ chức ca nhạc tài tử. Tôi nhớ nhất là bài Hành Vân với lời ca như sau:
                    Hội ca cầm
                    Là hội ca cầm
                    Chúc cho cậu mợ được bình an
                    Vinh huê phú quới
                    Phú quới rồi lợi vinh huê
                    Sống bá niên trường thọ
                    Đông con cháu
                    Trên ô tô dưới thời ca nô
                    Nằm giường ngà lại thêm nệm gấm
                    Đi đôi giầy ma-nị
                    Ngồi thời nệm loan
                    Bịt cái răng bằng vàng
                    Đi cây dù xi-cu-la
                    Giống hình tiên nga
                   ……
          Chín tuổi tôi học lớp tư, thầy giáo là thân sinh của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, bấy giờ anh Phước trên 13 tuổi, thỉnh thoảng từ Cần Thơ có ghé trường thăm ba. Để xả hơi, thầy giáo hỏi có ai biết nói thơ Vân Tiên không?! Trò Búp đưa tay, đứng dậy và nghê nga:
                    Trước đèn xem truyện Tây Minh
                    Gẫm cười hai chữ nhơn tình éo le…
          Tôi thấy anh Phước có vẻ trầm ngâm, nét mặt anh vô cùng xúc động.
          Lối nói thơ này khác với lối nói thơ Sáu Trọng mà hằng ngày tôi có dịp nghe ở chợ Ô Môn. Người nói thơ Sáu Trọng vừa nói vừa đờn độc huyền, thỉnh thoảng người vợ ngồi gần bên xen vào nói vài câu. Lúc giận, lúc buồn, cách đệm đờn đều khác biệt khiến người nghe thích thú. Đôi khi người nói thơ làm một vài điệu bộ nào đó để minh họa. Sau nầy, tôi cho rằng lối nói thơ nầy rất gần gũi với sân khấu và nó đã để lại ấn tượng khó phai mờ trong đời thiếu niên của tôi.
          Nhà tôi cách trường khoảng 2 cây số, đối với học trò 9 tuổi như tôi mà phải đi bộ bốn lần trên một lộ trình như vậy thì khá xa. Do đó, tôi ít khi nghỉ trưa ở nhà. Sáng đi học về, ăn cơm trưa xong tôi liền cắp sách đến trường. Trên đường đi đến trường tranh thủ khoảng thời gian ít ỏi, tôi thường la cà ở Đình làng Thới Thạnh, chùa Ông Bổn, chùa Khmer Phôthisomron hoặc nhà việc chợ Ô Môn. Khi nào đình làng phá trống, phá chiêng, tôi được coi lễ phục dân tộc và các loại binh khí thời cổ. Trong đình làng có nhiều chỗ nằm chơi và được nghe ông từ kể chuyện đời xưa.
          Ở chùa Ông Bổn chẳng có gì đặc biệt, bọn tôi một nhóm học trò cùng lứa tuổi, chỉ chăm bẳm đến những bức tranh đắp nồi (phù điêu) ghi lại các sự tích trong truyện Tam Tạng đi thỉnh kinh ở Tây Trúc; Quan Công; Quan Bình và Châu Xương trong truyện Tam Quốc. Coi chán, bọn tôi lại kéo đến chùa Phôthisomron bổng nghe có tiếng ê a của bọn trẻ con đang học chữ Khmer: “Cò kho, cho kho ngua, chò xo cho xo nhua, bò pho bò pho nhua”. Hai người bạn mới là Danh Chiếp và Vương Lavay ngoắt bọn tôi vào. Chúng tôi leo lên nhà sàn thấy các trò đang học bỗng ngưng, lại chạy đến mấy cây đàn và chơi một điệu trên đàn ngũ âm cho chúng tôi nghe. Các bạn chơi đàn đầu cạo trọc, chừa ở mỏ át một lọn tóc dài được vắt bên vành tai. Bản nhạc nghe vui nhộn, thỉnh thoảng được đệm thêm các điệu rung trống như tiếng cười rộn rã.
THÚ VUI Ở ĐỒNG RUỘNG
          Khi tôi hơn 10 tuổi, thú vui đồng ruộng ngày càng cuốn hút tôi, mùa nào cũng có thú vui của nó. Vào mùa nước, trong dịp cấy, thanh niên nam nữ vừa làm vừa hò. Các giọng hò của họ nghe vui tai, gây nên biết bao cảm hứng. Họ chọc ghẹo nhau, đùa giỡn nhau mà tôi chưa hề từng thấy bao giờ. Gần Tết, lúa đã trổ bông, cha tôi đem tôi vào ngủ trong trại ruộng. Nửa đêm bên cạnh trại ruộng có tiếng gì nghe rào rào. Cha tôi nói: “Đó là cá đi”. Sáng sớm cha tôi xách giỏ ra đi, ông đến mấy cái hầm mà ông đã đào hôm trước, ông giải thích: Nửa đêm, hễ trời có mù sương, cá sẽ bỏ đìa mà đi tìm nước theo con đường nầy. Thật vậy, cá bị lọt xuống hầm rất nhiều.
          Gió chướng về, ở trên trời mấy con thững kêu ti te tí te suốt ngày đêm: thế mà chim dồng dộc vẫn kêu hót inh ỏi. Chúng làm tổ trên những cây ngô đồng có gai nhọn, trẻ con không dám trèo lên. Chiều về đoàn xe trâu chở lúa được người ta đổ thêm dầu cá vào cốt bánh xe càng kêu thêm cót két tợn. Tiếng cót két giảm dần theo hướng của đoàn xe mất hút vào rặng cây có tiếng chó sủa râm ran. Chú Xôm, một thanh niên người Hoa, nắn cho tôi những con tu hú bằng đất, thổi nghe kêu nhiều giọng. Có lúc chú cao hứng, quơ tay múa chân theo điệu hò chèo thuyền: “Chày mọ nại, chày mọ nại…Hấy dớ dớ, hấy dớ dớ…”.
          Tôi còn nhớ lúc tôi còn nhỏ, một đêm xem đoàn cải lương Huỳnh Kỳ diễn vở Sơn Hà Xã Tắc, chị tôi phải cõng tôi lên vai đặng xem cho rõ. Đến khi lớn lên đi học, tôi được coi nhiều gánh hát như Tập Ích Ban, Tân Đồng Ban. Ban ngày, nhà dài chợ Ô Môn là nơi buôn bán, tối đến, trở thành rạp hát, chung quanh được bao che bằng vải bạt. Chúng tôi có thể lẻn chui vào trong để coi hát, không phải mua vé. Lúc vãn hát thì đêm đã khuya, vì sợ ma không dám về nhà nên tôi phải đánh liều nằm ngủ lại trên các thớt thịt, Chỉ có đoàn Yu-kê về diễn thì chúng tôi không thể chui vào “xem cọp” bởi xung quanh rạp được bao bọc bằng những tấm thiếc to. Đôi khi gặp mấy thằng bạn người Khmer, dắt vô xem ké. Đó là vở Yu-kê nói về Cam bồ lô ria đi lạc vô rừng, bị Chằng bắt, về sau được một tráng sĩ cứu thoát…
          Đến nay, trong ký ức tuổi thơ vẫn còn in sâu những chuyện mang tính “quốc sự” của quê nhà. Đó là sự tích Ông Trần Ngọc Trác đánh chết culi BàiMột cuộc bạo động của nông dân đòi giảm thuế thân.
          Culi Bài là một người làm việc vặt của Ban hội tề làng Thới Thạnh. Do dựa vào thế lực của nhà nước Pháp mà y có nhiều hành động xấc láo xấu xa đối với nhân dân. Là tay sai cho Pháp, y dọa nạt bà con lối xóm và đòi hối lộ. Từ khi phong trào đòi giảm thuế có mòi suy thoái, bọn lính kín ngày càng khủng bố, bắt bớ, hăm dọa. Nếu ai bị tình nghi thì là cơ hội tốt cho chúng làm tiền.
          Trần Ngọc Trác là một tanh niên hào phóng, có học, thích làm nghĩa. Trác thường hay tụ tập bạn bè múa lân, đánh võ, cho nên cả xóm Rạch Tra ai ai cũng điều biết anh. Chúng tôi ở xóm Rạch Điều thường hay lội qua sông để chơi với anh. Rạch Tra ở ngang Rạch Điều cách con sông Ô Môn.
          Người ta đồn Trần Ngọc Trác đánh chết tên Bài, sự thật là Trần Ngọc Trác có đánh, song ít lâu sau thì Bài bệnh chết. Trác người to lớn, còn Bài thì gầy gò ốm yếu. Nếu muốn đánh chết y thì anh có thể đánh chết ngay từ lúc đầu. Nhưng đây chỉ là một hành động cảnh cáo mà thôi. Đây cũng là hành động mở đầu cho phong trào chống Pháp của đa số thanh niên Rạch Tra sau nầy.
          Buổi sáng một ngày nọ, trong khi chúng tôi vui đùa thì thấy phía lộ xe có tiếng la hét inh ỏi. Đó là đoàn người đông như kiến đang kéo ra chợ Ô Môn, xa xa phất phới một ngọn cờ đỏ, nhìn kỹ là một cái mềm đỏ được kết vào một cái sào dài. Tôi chạy theo, mẹ tôi bắt giữ lại, nói: “Đó là chuyện quốc sự. Họ đòi giảm thuế thân, đừng chạy theo nguy hiểm lắm”. Đến giữa trưa bỗng nghe có tiếng súng nổ. Một lát sau có người hốt hoảng chạy ngang qua nhà, mẹ tôi hỏi: “Cái gì vậy?”. Một người đáp: “Họ đòi bắt ông Phủ Giảng mổ bụng dồn trấu, đổ môi chì, lổ đít thau, đập cho chết mẹ nó đi”. Một người khác trả lời: “Súng bắn chỉ thiên không ai chết cả. Cô Bảy Tiếng gan quá, dám lên diễn đàn diễn thuyết đòi giảm thuế thân cho bà con nông dân”.
          Tối hôm đó cả xóm không ai dám mở cửa. Bên ngoài chó sủa dữ dội. Sáng sớm mọi nhà mới kháo nhau: Hôm qua lính kín đi vây bắt cộng sản. Ba hôm sau tôi nghe đồn cô Bảy Tiếng bị mất tích, chị Song chèo đò ở Ô Môn cũng đi mất rồi. Mẹ tôi cho rằng họ đi làm cộng sản đó. Về sau tôi mới biết làm cộng sản là chống lại Nhà nước thực dân Pháp. Thầy giáo Liêm (Châu Văn Liêm) mất tích nghĩa là đi làm cộng sản. Tội nghiệp bà Các (vợ Châu Văn Liêm) và chị Hằng (con gái thầy Liêm) ở nhà không có người coi. Chị Hằng là bạn học cùng lớp với tôi lúc bấy giờ.
          Việc cô Bảy Tiếng mất tích khiến cho xóm Rạch Điều xôn xao. Cô Bảy Tiếng (con của Ba Cao) là bạn thân của chị Sáu tôi. Tôi thương cô quá, vì cô là một người con gái vui vẻ, hiền hậu và rất tốt với mọi người. Tất nhiên chị Sáu tôi là người buồn nhiều nhất. Năm ấy, chị tôi tròn 19 tuổi, người dong dỏng cao, nước da trắng, mắt to, tóc màu mật ong. Trong đêm thanh gió nhẹ, chị Sáu ngồi bên bờ sông Ô Môn thỏ thẻ ca một bài Tứ Đại. Tôi còn nhớ mấy câu đầu:
                    Chưng bởi chưng công tử đi du nhàn
                    Gặp tôi trong lúc giữa đàng.
                    Mới cậy người đến nhà hỏi han
                    Nào ngờ đâu…
          Có lúc chị tôi cũng dõng dạc ca lên một bài Xàng Xê quốc sự:
                    Kêu hỡi trời, sao ông đành phụ người vị quốc
                    Nằm gai quyết toan nếm mật
                    Thù nhà nợ nước phải lo
                    (ấy là phận làm trai)
                    Nào hay cái bữa hôm nay
                    Tang thương biến đổi, cơ trời vẫn xoay
                    Nghĩ tiếc thay cho người hùng anh
                    Đã lắm phen ra tay oanh liệt
                    Bắc Nam đồng bào thảy biết
                    Rằng Việt Nam nay đã tỉnh say
                    Thấy nước trong cơn bại hoại
                    Đặng có ra tài cứu nước khỏi chông gai.
                    …
          Khi tôi bắt đầu đến trường thì cha mẹ tôi đã có tuổi. Các việc giao tế đều do chị tôi đảm nhận. Ngoài việc lo cho chúng tôi ăn học, thi cử, chị tôi còn phải giúp đỡ cho mẹ trong một số việc khác. Có lần chị tôi phải đến dinh tỉnh trưởng người Pháp để bàn việc chuyện đất đai, ruộng nương. Mỗ lần đi, chị tôi mang tôi theo. Tuy không được ăn học đến nơi đến chốn, chị tôi rất có khả năng giao tiếp. Chị thẳng thắn đối với ai có hành động sai trái. Bấy giờ ở bến xe Ô Môn có một số thanh niên thô lỗ. Hễ thấy các cô gái ở nhà quê lên chợ mua bán thì họ chọc ghẹo hết sức thô bỉ. Các cô mắc cỡ quá, đi không được phải ôm cột đèn mà chịu. Thế nhưng, thấy chị tôi đi ngang qua thì bọn này chỉ có hả họng trố mắt mà nhìn. Không ai dám hở môi trêu ghẹo. Chị tôi có một dáng đi hết sức đặc biệt là đầu ngẩng cao, mắt nhìn thẳng mà vẫn giữ được nét dịu dàng của một thanh nữ. Chị là một người có tâm hồn, tế nhị và giàu xúc cảm, thương ghét dứt khoát, cư xử đúng mực với người trong xóm. Đến đâu chị cũng được yêu mến, nể nang. Với tính cách ấy đã ảnh hưởng trực tiếp đời tôi và gây nên một ấn tượng sâu sắc.
          Cuối năm 13 tuổi tôi thi đậu sơ học yếu lược. Năm 14 tuổi tôi đi ghe với anh Hai tôi bằng đường sông đến Thủ Dầu Một. Ghe tách bến từ Rạch Giá đến sông Hậu, qua sông Tiền lên Vàm Cỏ, qua Bến Lức vào Sài Gòn. Sau đó ngược sông Sài Gòn lên Lái Thiêu và cuối cùng tấp vô Thủ Dầu Một. Nhân chuyến đi nầy, tôi hiểu biết thêm đất nước Nam Bộ, nghe biết bao điệu hò, câu hát, hiểu thêm về nghề thủ công của từng địa phương. Nghề giã bàng ở Kiến Vàng, nghề mộc ở Thủ Kiến Xoay, nghề bối ở Ba Cụm, nghề ép mía, nghề vẽ, nghề khảm xà cừ ở Lái Thiêu, nghề gốm và gạch ngói ở Biên Hòa. Đặt biệt ở Lái Thiêu, nghề thủ công thuộc về bàn tay khéo léo của trẻ con.
          Ở đây, tôi sẽ kể về một cái nghề hết sức độc đáo, đó là nghề bối. Nghề này không phải là nghề thủ công mà là nghề ăn cắp vặt. Một số người nghèo khổ sống lang thang tới chợ Ba Cụm, tụ họp thành nhóm chuyên ăn cắp đồ lề của ghe thương hồ đậu nghỉ tại đây. Một hôm ghe chúng tôi vào Bến Lức theo kinh Ba Cụm đi vào Sài Gòn, đi được một đỗi thì gặp giáp nước (Nơi gặp nhau của hai dòng nước thủy triều). Nước không chảy nữa nên đành phải đậu lại để chờ con nước xuôi về Sài Gòn. Trời vừa tối, anh Hai và tôi đều ngủ mê, đến gà gáy mới thức giấc. Bỗng nhiên ghe nghiêng hẳn một bên, chúng tôi ngồi nhổm dậy, trông thấy một người đàn ông đầu cạo trọc lóc đang đứng trên be ghe, hai tay ôm cột chèo định nhổ. Anh Hai tôi định la lên thì y chỉ thắng anh hai tôi, quát nạt: “câm miệng lại ngay!”. Có người ở ghe bên cạnh nói nhỏ: “Ông anh đừng đụng tới nó mà mang họa, để sáng mai mình mua lại có sao đâu”. Tên bối thoáng một cái đã chuồn mất. Bây giờ người ở ghe bên cạnh mới dám bò ra ngoài mui, nói chuyện về nghề bối ở đất Ba Cụm nầy.
          Trời hửng sáng, anh Hai tôi nhìn lại chung quanh ghe, la lên: “Tổ mẹ nó, nó lấy hết ráo làm sao đi Sài Gòn được”. Người bên cạnh nghe cười, nói: “Hơi đâu mà lo”. Ông đưa cho anh Hai tôi chum trà rồi tiếp: “Anh uống chút trà đi, một lát nữa nó đem ra bán, mình mua lại, rẻ lắm”. Vừa dứt lời thì có tiếng chèo khua. Một người đàn bà đầu quấn khăn rằn, đang chèo ghe tam bản, trên ghe để ngổn ngang các loại đồ lề đi ghe, miệng rao to: “Ai mua sào, nạng, chằng buồm, cột chèo, bánh lái hôn…”. Chị bán hàng cặp ghe lại gần, mời anh Hai tôi: “Anh có thiếu gì thì mua đi, tất cả trả cho một đồng”. Anh Hai tôi đành móc tiền đưa cho chị kia, như chuộc lại những gì đã bị bối. Chờ chị kia chèo đi khỏi, ông bạn ghe cười khì khì: “Họ làm nghề này sống được lắm, có thờ ông tổ đàng hoàng nghen!”. Nghe nói nghề bối và nghề hát bội đều thờ chung một ông tổ, tôi hết sức kinh ngạc và nghĩ mình phải hỏi lại chị Sáu mới được.
          Mấy ngày sau, ghe vừa cặp bến trước nhà, chị Sáu tôi vui vẻ bước xuống ghe ôm tôi hôn, khen: “Dạo này thấy em khỏe ra, có lẽ nhờ chèo ghe, phơi nắng. Bữa nào hai chị em mình chèo ghe đi mua lúa ở Tám Ngàn, lúa ở đó rẻ lắm”. Nghe nói chèo ghe, tôi liền nhớ chuyện bối Ba Cụm. Tôi hỏi ngay: Chị Sáu ơi, có phải nghề ăn cắp và nghề hát bội cùng thờ chung một ông tổ không chị?”. Chị tôi gật đầu: “Phải đó, chuyện dài dòng, bữa nào rảnh chị kể cho em Chín nghe”... (còn tiếp phần II)
                                                                                                                        
Thành phố Hồ Chí Minh
                                                                                                                                    20-03-1987
                                                                                                                                          Đ.N   

* Ghi chú: Tháng 05/2026 - Bài được Nguyễn Thị Lý - Trung tâm Dịch vụ Tổng hợp phường Ô Môn sưu tầm và đánh máy lại trong sách: Nhạc và đời/Lê Giang, Lư Nhất Vũ chủ biên.-Hậu Giang: Tổng hợp Hậu Giang,1989.-699tr.;21cm.
       Tóm tắt sách Nhạc và đời: Cuộc đời, sự nghiệp âm nhạc của hơn 20 nhạc sĩ và những tác phẩm nổi tiếng từ những ngày đầu cách mạng đến nay. Trong đó có 04 Nhạc sĩ ở Ô Môn – Cần Thơ là: Lưu Hữu Phước, Trần Kiết Tường, Đắc Nhẫn, Triều Dâng.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
CẤP THẺ BẠN ĐỌC
GIA HẠN SÁCH
CHỦ TÍCH HỒ CHÍ MINH - SÁNG MÃI TÊN NGƯỜI
KHO SÁCH ĐIỆN TỬ - EBOOK
BÀI BÁO - TẠP CHÍ SỐ HÓA
BÀI BÁO - TẠP CHÍ SỐ HÓA SỐ HÓA VỀ CẦN THƠ
Tập Thông tin Chuyên đề
THÔNG TIN DU LỊCH VIỆT NAM
THÔNG TIN KINH TẾ ĐBSCL
THÔNG TIN NGÂN HÀNG THẾ GIỚI
PHÁT THANH: VĂN HÓA ĐỌC VÀ CUỘC SỐNG
CSDL TÊN ĐƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ
BẢN TIN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TP. CẦN THƠ
ẤN PHẨM XUÂN CẦN THƠ
THƯ VIỆN CƠ SỞ
<
logo gemini
logo zalo
logo fb
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây