BÀI HÁT ĐẦU TIÊN VÀ CUỘC KHÁNG CHIẾN 9 NĂM
Về kinh Dương Văn Dương, một buổi chiều đọc tập thơ của Dân Thanh, tôi rất xúc động với bài Chiến sĩ vô danh nói về người mẹ hy sinh rứt giọt máu của mình hiến dâng cho Tổ quốc. Người mẹ đó, nhà thơ Dân Thanh gọi là chiến sĩ vô danh. Tôi liên tưởng đến mẹ tôi và bao nhiêu người mẹ khác. Một đêm, dưới ánh đèn dầu lờ mờ bên bờ kinh Dương Văn Dương, Đồng Tháp, tôi phổ nhạc bài thơ Chiến sĩ vô danh (1948), không mất một chữ. Nước mắt tôi trào ra từng hồi đến lúc thấm trên giấy nhạc. Tôi hồi tưởng lại một ngày mùa Thu năm 1945, tôi tạm biệt mẹ tôi và gia đình thoát ly đi kháng chiến.
Bài thơ năm chữ đó đã thành bài hát hai đoạn A-B và một vĩ kết (Côđa). Đoạn chậm A rất tâm tình, đoạn nhanh vừa B hùng mạnh với tiết tấu nhịp nhàng và Côđa trang trải bao la để nói lên tình cảm rộng lớn đáng kính yêu của những bà mẹ Việt Nam. Anh Quốc Hương, nghệ sĩ nhân dân là người đầu tiên thể hiện tình cảm bài hát nầy từ năm 1949 tại miền Tây Nam Bộ. Chiến sĩ và đồng bào nghe rất xúc động, chính họ nuôi dưỡng nó mãi đến thời chống Mỹ cứu nước ở chiến trường miền Nam gian khổ. Hai mươi năm đất nước tạm thời bị chia cắt, bài Chiến sĩ vô danh cũng đi vào lòng chiến sĩ và cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc. Nhiều ca sĩ đã hát bài hát nầy, nhưng anh Quốc Hương vẫn là nghệ sĩ biểu diễn chân thật, sâu sắc nhất.
Đại bố Đồng Tháp Mười tháng 6/1949. Lúc đó tôi đang phụ trách Đội Thiếu sinh quân Quốc vệ đội Nam Bộ. Khoảng 200 cán bộ của 2 cơ quan đóng tại kinh Dương Văn Dương phải sơ tán ra đồng. Chiều hôm đó, 6 chiếc xe tăng lội nước của giặc Pháp chạy ruồng qua chỗ chúng tôi như một bàn tay xòe. Tố Linh ôm Thanh Thảo mới lên 8 tháng nằm phụp xuống đám lác cao khỏi đầu để trốn xe tăng. Một ngọn lác nhọn quét đâm thủng bàn chân của bé Thảo (con mang thẹo đến bây giờ) mà bé không khóc, nhờ mẹ ghì chặt cho bú, thật là hú hồn. Chiều hôm đó, giặc Pháp chỉ bắt chở lên xe tăng được có vài người. Còn gia đình tôi thì nằm lọt kẽ xe tăng. Tối đến đen như mực, chúng tôi chịu một trận mưa rào ngập lụt hết vùng đó. Chúng tôi phải ngủ gà ngủ gật trên mấy tấm đăng để sáng hôm sau trở về cơ quan. Ở đây, ngày ngày mấy em nhỏ chạy giỡn tung tăng như những con chim non nhảy nhót quanh tôi. Một hôm, mấy em vây tôi nói: “Chú viết cho mấy cháu bài hát Thiếu sinh quân để mấy cháu làm đội ca”. Tôi nghe như có cái gì thôi thúc tâm hồn, ngay đêm đó tôi hoàn thành bài hát Thiếu sinh quân hành khúc (1948). Các em rất phấn khởi, đi đâu cũng hát. Từ đó, bài hát trở thành Đội ca chính thức Thiếu sinh quân Quốc vệ Nam Bộ.
Cũng thời gian nầy, tôi viết bài hát Theo dấu Cụ Hồ (1948):
Lúc đế quốc đang tàn lừng uy danh Bác Hồ
Không ham tước tham quyền Bác hy sinh vì dân
Đời Cụ Hồ gian nguy cần lao phấn đấu luôn
Muôn năm ghi quý danh cha già Hồ toàn dân…
Ca sĩ Xuân Mai thường hát bài nầy trong những buổi sinh hoạt chính trị và văn nghệ ở Đồng Tháp Mười. Sở thông tin Nam Bộ xuất bản bảng typo (là bài hát in typo được đánh số 1).
Chiến trường Nam Bộ ngày càng gian khổ. Địch tấn công liên tục vào Đồng Tháp. Mặc dù tôi chưa được gặp Bác Hồ, nhưng tôi luôn luôn tin tưởng Bác là vị cứu tinh của dân tộc. Lúc nào tôi cũng hướng về Bác và hình dung Bác như trong bài Nhớ Bác Hồ, tôi viết năm 1949:
Này ngày thầm hướng ra xa kính yêu Bác Hồ
Tinh hoa nước Việt Nam vốn oanh liệt anh hùng
Hình Người tầm thước thanh tao mắt sao sáng ngời
Người dìu dắt giống nòi tìm hạnh phúc muôn đời.
Bài hát nầy có giai điệu mượt mà, khúc thức gọn gàng một đoạn đơn, thường được tấu nhạc không lời trên đàn viôlông.
Thời gian nầy ở Quốc vệ đội Nam Bộ có anh Marcel Tươi phụ trách Giám đốc Công an xưởng Nam Bộ. Anh Marcel Tươi thường được gọi là ông Tư Râu vì anh Tươi có bộ râu dài như râu Bác Hồ. Bộ râu dài là một lời thề khi nào làm được cây súng sáu đầu tiên thì anh mới cạo râu. Đó là một quyết tâm, một ý chí. Quả thật anh Tư Râu đã làm được cây súng Col 9 đầu tiên gửi ra Việt Bắc làm quà cho Bác Hồ. Anh Tư đón tôi về xưởng làm súng, xưởng súng đóng bí mật trên một ngọn đồi ở Đồng Tháp mà sau nầy nhân dân vùng đó gọi là Đồi ông Râu. Anh đề nghị tôi viết một bài hát để động viên anh em công nhân. Tôi ở đó vào mùa nước nổi, đi đâu cũng bằng xuồng, ăn uống không có gì, chỉ có rau đồng và thỉnh thoảng kiếm được vài con cá. Cuộc sống ở đây vô cùng gian khổ nhưng tinh thần rất lạc quan. Tinh thần lạc quan chiến thắng giúp tôi viết được ngay bài hát Công binh Việt Nam. Anh em rất thích và từ đó nó trở thành bài hát chánh thức của Công an xưởng Nam bộ, Bài hát hùng mạnh, dễ hát với tiết tấu nhịp nhàng:
Đoàn công binh Việt Nam bền gan yêu non sông
Lòng nung nấu chứa bao hận thù bao tình yêu lao công
Quên đời tư vùi thân làm cho đời chung
Công binh ơi! Tiến lên! Tiến lên! Tiến lên!...
Năm 1986, nhân ngày truyền thống của Công an xưởng Nam Bộ, bài hát được Nhà văn hóa Lao động diễn với tốp ca nam nữ. Hôm đó, tôi có đến dự và vô cùng xúc động.
Tháng 6 năm 1949, tôi chuyển công tác về khu IX. Ôi, cả một vùng đất phì nhiêu, trù phú. Trên chiếc tam bản mui ống, tôi và Tố Linh xui ngược trên sông Tiền sông Hậu, Chắc Băng, Cạnh Đền, Nước Trong, Bà Lớn, dọc ngang khắp chốn sông nước miền Tây Nam Bộ. Đêm đêm, giọng hò Cần Thơ của ai đó vang lên trên những con sông dài, trên những con kinh rạch dưới ánh trăng thơ mộng. Tiếng đàn Măngđôlin của tôi cũng làm say mê những người bạn đồng hành. Có những đêm trăng, Tố Linh chèo ghe xuôi theo con nước, bé Thảo thì ngủ võng trong mui ghe, tôi chơi ngẫu hứng đàn Măngđôlin. Đến đâu tôi cũng thấy những chiếc nóp nhúc nhích trên mui ghe đậu hai bên bờ sông, rồi có những cái đầu chui ra khỏi nóp nhìn theo ghe tôi vang lên tiếng đàn.
Cuộc kháng chiến trường kỳ càng thêm ấm áp tình người và luôn tin tưởng yêu đời. Trai gái vừa sản xuất vừa chiến đấu, yêu nhau, cưới nhau trong khói lửa, dưới làn bom đạn. Tôi chèo xuồng đi thăm anh bạn nhạc sĩ Đắc Nhẫn ở Lá Niên. Con kinh vào nhà anh quá hẹp nên tôi phải đưa mái chèo lên hai bên bờ kinh, có lúc phải chống bằng sào. Nhưng tôi nhớ anh ấy. Thời gian nầy anh Đắc Nhẫn yếu sức, che một túp liều ngoài bờ dừa. Vậy mà nhạc của Đắc Nhẫn rất hùng mạnh đầy sức sống như bài hát Tầm Vu, Việt Nam nghìn dặm hay Ba Rinh trận địa…
Tôi lại tìm thăm nhạc sĩ Vy Luân, tác giả của những bài hát Du kích giết Tây, Má đừng lo. Anh Vy Luân sống rất nghèo, rất đạm bạc nhưng anh rất vui, dễ mến. Tác phẩm của anh phản ánh đúng con người, rất đáng yêu.
Chính thời gian nầy, tôi tắm mình trong dân ca nhạc cổ. Tôi chung sống với bà con nông dân hiền hòa, đôn hậu, chân thật, cởi mở. Bà mẹ chiến sĩ rất mực thương con chiến sĩ và cán bộ Cụ Hồ. Má cho ăn ở trong nhà, hò lý cho nghe. Đêm đêm tôi say sưa ghi lại những làn điệu dân ca của má Hai, chị Ba, em Sáu hát. Những làn điệu dân ca đó đã giúp tôi viết bài hát Anh Ba Hưng (1950) trên cơ sở bài hát Con chim manh manh.
Lời đầu tiên tôi hát bài hát nầy ở Rạch Giá như sau:
Có anh Ba Hưng, vốn thiệt con cưng, lưng lớn ba vừng, mà hỏng chịu tòng quân. Thằng Sáu thấy anh nó cười. Thiệt thằng nhỏ xíu mà khôn. Nó trêu nó trêu anh hoài. Nó nói cái lưng anh dài, nó nói cái mặt anh chai: Thanh niên sao không đi lính cũng không cấy cày. Anh Ba đỏ mặt tía tai. Về nhà xin đi lính đã hơn năm trường. Vừa rồi mới được huân chương. Thằng Sáu thấy anh nó mừng. Láng giềng hỏi thăm sự tình. Tôi nói có anh Ba Hưng.
(Trở lại từ vốn thiệt con cưng)
Vừa viết xong thì cô Năm con má Hai, nhà cho tôi ở đã hát nghêu ngao trên võng và mấy hôm sau thì phổ biến lan ra khắp xóm. Có ý kiến lãnh đạo nói như vậy thì nông dân sẽ tự ái. Họ gợi ý tôi sửa. Tôi suy nghĩ mãi, tự hỏi: “vậy là âm nhạc không được chê trách mà chỉ được khen thôi! Tôi nhớ trong dân ca Nam Bộ cũng có bài Lý giao duyên trách móc người chồng bạc nghĩa bạc tình, hò Đồng Tháp trách người yêu đi lấy vợ: Anh ơi anh có vợ rồi lấy tay che mặt mà đừng ngó đừng dòm tới em, hay những bài vè Tệ uống rượu, Vợ chồng làm biếng…nhưng rồi tôi cũng sợ, vì họ cho là quan điểm tiểu tư sản?! Mấy hôm sau tôi sửa lời lại như đã phổ biến từ năm 1950 đến nay: Có anh Ba Hưng, vốn thiệt nông dân, đi lính hơn năm trường vừa mới được huân chương, Thằng Sáu thấy anh nó mừng, Thiệt thằng nhỏ xíu mà khôn…Hình như lời sửa như vậy chị em không thích lắm nên họ vẫn “ru con” bằng lời đầu tiên của tôi, vì nó thật, nó dí dỏm, hợp với tính hài hước châm biếm của nông dân Nam Bộ.
37 năm sau, mới đây có dịp gặp nhau tại nhà Lư Nhất Vũ – Lê Giang, nhạc sĩ Triều Dâng có phổ thơ của Lê Giang Má buồn, má giận anh. Sao tôi nghe cũng lọt vào tai mà thật lắm, lại cũng hấp dẫn.
Đầu năm 1952 tôi về Vàm Bi, xã Trường Long, huyện Ô Môn, ở một túp nhà không cửa không vách. Người ta nói đó là nhà lò rèn, chủ nó đã bỏ đi vì làm ăn không khấm khá. Lúc này giặc bắn phá Trường Long dữ dội. Tôi viết bài hát Phục thù (1952):
Tôi nhớ hôm nào quan Pháp nó vô đây
Bắn chết bầy trâu tôi mới dắt ra đồng
Nhà tôi vốn chỉ còn có mấy đôi trâu
Quân Pháp đành tâm nó giết chết đâu còn
Anh Văn Thông Minh công tác ở Ty Thông tin Cần Thơ đàn ghita, còn tôi thì đàn Măngđôlin cho mấy em gái xã Trường Long. Tôi và Văn Thông Minh tổ chức một đội ca múa ở xã Trường Long được bà con rất tán thưởng. Một chiều tôi nhớ đến đứa con trai của tôi tên là Công Thắng. Bé Thắng 2 tuổi, tuổi con Mèo. Bà Ngoại nói nó xung khắc với mẹ nó là tuổi con Chuột nên để ngoại nuôi ở Thốt Nốt vùng tạm chiến. Tôi nhắn đem thằng bé Thắng vô chơi, mới được 15 ngày thì bé Thắng bị cảm nặng chết. Không dám đi chôn ban ngày sợ máy bay oanh tạc, tôi cầm đèn dầu và cái xẻng đi trước, anh Sáu Sử đàn tranh và anh Tư Ninh xưởng mộc đi sau, đem em bé đi chôn trong vườn bên sông ngã ba Vàm Bi, lúc 3 giờ khuya, mưa rơi lắc rắc trên cành lá. Tố Linh ngồi nhà ôm bé Thảo khóc. Sau đó chúng tôi bỏ nhà lò rèn xuống ghe đi lang thang trên sông nước Trường Long, ghé chơi nhà ông Hai Sao trại xuồng và thường hay đến vợ chồng anh Ba Thoại.
Về sau, giặc Mỹ đóng đồn trên mộ bé Thắng. Năm 1964, tại Hà Nội tôi viết nhạc cảnh Đêm nay sao gọi là đêm tác phẩm binh vận mà anh Quốc Hương đóng vai chính – Trung úy đồn trưởng. Nhớ đến trên mộ con tôi giặc đóng đồn, có đoạn tôi viết cho vai trung úy ngụy: Đi đâu? Làm gi? Khi con tôi đã chết vì bom đạn Mỹ. Nhớ đến gia đình, cha mẹ, anh em tôi còn đang sống dưới bầu trời đen tối ở miền Nam, tôi viết nhạc binh vận như là một mảng đề tài không thể thiếu được. Một loạt tác phẩm nối tiếp nhau ra đời như bài hát Đã bao lần mai nở (1972), Trên cành Nam chim Việt làm tổ (1973), Còn không nhớ câu thề (1973), Tiếng gọi mùa xuân (1973), Tôi không muốn đi lấn chiếm (1973), Niềm vui và hy vọng (1973), Ước mơ đang chắp cánh (1974), Giã từ chiến cuộc (1974), Bài ca nghĩa binh (1974) lấy tên Công Thắng), Một đêm đông ghi nhớ (nhạc cảnh – 1974).
Viết cho Đài Tiếng Nói Việt Nam tôi lấy tên Trần Kiết Tường. Viết cho Đài phát thanh Giải phóng tôi lấy bút danh là Thanh Phong. Riêng bài hát “Bài ca nghĩa binh” tôi lấy bút danh là Công Thắng, đứa con tai 2 tuổi của tôi đã chết chôn ở Vàm Bi năm 1952 bị giặc Mỹ đóng đồn trên mộ.
… Cuối năm 1952, buồn quá tôi lại chèo ghe đi lang thang trên kinh xáng Bảy Ngàn. Vợ chồng anh Tư Cương, Ty Giáo dục Cần Thơ khuyên tôi nên ở gần anh chị ấy cho vui. Hai anh Chiến và Đấu giúp tôi dựng một túp nhà lá ở tại Bà Kho trong 2 ngày, giường ngủ bện bằng cọng lá dừa nước. Vài tháng sau, tôi viết bài hát Nhớ anh Vệ quốc (1952):
Trên trời có muôn sao giăng
Tôi thấy trăm ngàn quân Pháp vùi thân
Đêm nay tôi nhớ anh lính Vệ quốc đoàn
Hy sinh giết giặc không sờn gian lao
Đêm nay tôi nhớ anh Vệ quốc đoàn
Hy sinh giết giặc không sờn gian lao
Anh lính Vệ quốc đoàn ơi!
Từ ngày anh đi lính diệt thù
Anh đã từng nghe tiếng đạn vù bên tai
Từ ngày anh đi lính diệt thù
Anh đã từng nghe tiếng đạn vù lên vai
Mà anh giết bao nhiêu Tây?
Mà anh giết bao nhiêu Tây?
Lập bao chiến công? Đáp lời non sông
Lập bao chiến công? Bao người chờ mong.
Lúc này tôi thường gặp Xuân Mai và Quốc Hương đến hát phục vụ bệnh viện Nha khoa của bác sĩ Thủ, nơi Năm Kim (Lê Giang) còn làm y tá. Bệnh viện đóng phía trong ngã ba Vàm Bi gần nhà tôi ở Bà Kho nên tôi cũng thường lui tới. Anh Sáu Bá. Ty Giáo dục Cần Thơ ghé nhà chơi thấy tôi thiếu gạo, anh cho tôi vay 40 giạ lúa không nghĩ rằng tôi sẽ trả được. Nhưng anh cần một bài hát tuyên truyền phong trào bình dân học vụ, điển hình là chiến sĩ Ngô Văn Thinh ở xóm Kinh Cùng.
Cách đây mấy hôm tại Hội Âm nhạc thành phố tôi gặp nhạc sĩ Triều Dâng: Nhạc sĩ Triều Dâng là chú bé Sáu Côn quê ở Trường Long, nên chú còn nhớ rất nhiều mẫu chuyện từ năm 1952. Hơn nữa trí nhớ của nhạc sĩ Triều Dâng ai cũng công nhận là tuyệt với. Chú ấy đọc thuộc lòng những gì chú đã viết và cả của người khác. Chú kể lại rất say sưa lúc tôi và Tố Linh đậu ghe dưới bóng cây gừa ở Bà Kho, gặp chú đi qua, tội gọi thất thanh: “Sáu Côn! Sáu Côn!”. Chú ghé xuồng lại, tôi nói: “Mình mới viết xong bài hát Hoan hô chiến sĩ Ngô Văn Thanh (1953), để ca ngợi phong trào bình dân học vụ của tỉnh”. Rồi tôi cầm đàn Măngđôlin hát:
Chiều chiều trời mưa dầm dề
Sình lầy đường đi nẻo về
Nhà nhà then gài cửa song
Vui là vui với chồng
Vui là vui với con
Ai thèm đi đến trường
Ai thèm đi đến trường…
Ghe xuồng xuôi ngược trên kinh xáng lần lượt đậu lại nghe tôi hát thành một buổi “tuyên truyền” lòng yêu nước, chỉ căm thù hết bài này đến bài khác.
Rất cảm ơn nhạc sĩ Triều Dâng và các bạn của Tố Linh đã nhắc tôi những sự việc ở từng giai đoạn trong khi tôi viết.
(Còn tiếp phần III: Vở ca kịch mới "Vì Tổ quốc vì hòa bình").
Thành phồ Hồ Chí Minh
18/03/1987
Trần Kiết Tường
* Ghi chú: Tháng 05/2026 - Bài được Nguyễn Thị Lý -Trung tâm Dịch vụ Tổng hợp phường Ô Môn sưu tầm và đánh máy lại trong sách: Nhạc và đời/Lê Giang, Lư Nhất Vũ chủ biên.-Hậu Giang: Tổng hợp Hậu Giang,1989.-699tr.;21cm.
Tóm tắt sách Nhạc và đời: Cuộc đời, sự nghiệp âm nhạc của hơn 20 nhạc sĩ và những tác phẩm nổi tiếng từ những ngày đầu cách mạng đến nay. Trong đó có 04 Nhạc sĩ ở Ô Môn – Cần Thơ là: Lưu Hữu Phước, Trần Kiết Tường, Đắc Nhẫn, Triều Dâng.