TUỔI THƠ BÊN DÒNG SÔNG Ô MÔN
Sinh ra và lớn lên bên dòng sông Ô Môn, tỉnh Hậu Giang, tôi đã sớm nghe những điệu lý của quê hương tôi. Mẹ tôi thường ru các em tôi ngủ với một giọng trong trẻo, lảnh lót: Ơ ầu ơ, ví dầu cầu ván đóng đinh. Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi – Cây đa trước miễu ai biểu cây đa tàn, bao nhiêu lá rụng em thương chàng bấy nhiêu.
Và còn nữa, còn nữa cho đến khi tôi khôn lớn. Cha tôi biết đờn kìm, thường hay chơi 3 Nam 6 Bắc, vọng cổ… Thỉnh thoảng ông lại hòa nhạc với mấy ông bạn đờn cò, đờn gáo, đờn tranh và dạy tôi đờn vài bài Bắc. Đêm đêm tiếng hò ai đó vang lên trên sông dài làm tôi thao thức. Cứ thế, từng ngày, từng ngày tôi lớn lên trong tiếng hát tiếng đàn dân ca nhạc cổ của quê tôi. Đến 7 tuổi, tôi đi học trường huyện. Tôi còn nhớ cô giáo Sang, thầy Ba Nhơn (Cha của Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước), thầy Từ Tích, thầy Khéo, thầy Sửu, đặc biệt tôi nhớ mãi Sáu Huệ dạy lớp nhì là người đã dạy tôi làm thơ Đường, thơ lục bát. Thầy giáo Huệ đã gieo hồn thơ cho tôi từ thuở nhỏ. Do vậy mà khi tôi viết lời cho bài hát như bài Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người, Bài ca chiến thắng, hay bất cứ bài hát nào, lời nhạc cũng như thơ. Bây giờ tôi càng thấy ảnh hưởng môi trường sống và tác động của âm nhạc thơ ca thời thơ ấu là điều quan trọng biết chừng nào. Chính giọng hát ru của mẹ tôi (bà Thái Ngọc Lang, hiện còn khỏe, năm nay 82 tuổi) đã làm tôi say mê những làn điệu dân ca từ thuở nhỏ. Chính những giọng hò trên sông Ô Môn là nguồn sáng tác âm nhạc của tôi từ bài hát đầu tiên Chiến sĩ vô danh (1948) đến Anh Ba Hưng (1950), Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người (1960) và đến nhạc không lời, nhạc điện ảnh, nhạc sân khấu.
Một kỷ niệm vui êm đềm lúc tôi còn ở quê nhà là khi trong lòng tôi chớm nở một mối tình với một người bạn gái cùng lớp ở trường huyện Ô Môn. Đó là cảm xúc đầu tiên của một người con trai mới lớn lên trước cái đẹp của thiên nhiên, trong đó có sông xanh, nước biếc, rừng già, biển cả, con chim con chóc và chủ yếu là con người. Một hôm tôi viết một bức thư thổ lộ tâm tình. Tôi trèo lên cây mít trước cửa trường học chờ nàng đi ngang qua để tuột xuống đưa thư. Khi thoáng thấy nàng từ xa đến, trái tim tôi đập liên hồi và khi nàng đến cây mít thì tôi nhắm hít đôi mắt. Chừng mở mắt ra thì nàng đã đi qua. Tiếc quá tôi tuột xuống vò nát bức thư đến cầu sắt liệng xuống nước rồi thơ thẩn đi qua cầu, chừng trở lại thấy lá thư còn lững lờ trên mặt nước. Rồi từ 1939 đến nay, cái gọi là mối tình đầu đó như đang lững lờ chờ đợi lên xuống theo dòng nước sông Ô Môn.
TỪ CÂY ĐÀN MĂNGĐÔLIN ĐẾN SÁNG TÁC
Tôi chơi đàn Măngđôlin lúc tuổi mười hai. Cây đàn Măngđôlin của tôi được đặt mua ở xưởng đàn Henri Richard Hà Nội. Cây đàn gỗ dán bằng sơn ta nên trong kháng chiến 9 năm, nhiều lần tôi nhảy xuống nước trốn máy bay, cây đàn không bung ra, chín năm dầm mưa dãi nắng cây đàn vẫn nguyên vẹn. Cây đàn luôn theo tôi từ quê nhà huyện Ô Môn xuống Cần Thơ, ra Huế lúc tôi học ban tú tài trường Lycéum Việt Anh năm 1943. Có lần ở Huế tôi chơi đàn trong giờ học ban đêm (érude). Tôi ngồi trong lớp học đánh đàn không bật đèn. Không phải tôi đánh bài hát mà là chơi ngẫu hứng. Dần dần các bạn sinh viên đến nghe thầm, vì sợ có ánh sáng thầy gác trông thấy. Vậy mà thầy gác cũng nghe tiếng đàn lọt ra cửa sổ vì kính bể nên phạt cả lớp 2 tuần không được đi chơi. Bây giờ nghĩ lại là tôi có năng kiếu sáng tác ngay từ khi chơi ngẫu hứng trên đàn Măngđôlin. Và mỗi lần về nghỉ hè tôi lại hòa đàn Măngđôlin với ghi ta của anh Lưu Hữu Phước. Chị em anh Phước thích hát do tôi đệm đàn Măngđôlin. Một hôm tự nhiên tình cảm của tôi thúc giục tôi sáng tác, tôi lấy giấy viết ghi nốt nhạc. Tôi nghĩ: “Tại sao anh Phước sáng tác được mà tôi không làm được?”. Tôi tìm ra được một mô típ nhạc và phát triển thành bài hát mà tôi lấy tên Vui gặp gỡ (1943). Nội dung bài hát nói lên niềm vui gặp gỡ của những đôi trai gái cùng nhau múa hát dưới đêm trăng. Tôi mừng quá dạy cho em gái tôi hát. Em tôi thích lắm. Nó hỏi ai viết? Nói khuyến khích tôi: “Anh cứ viết nữa đi anh Hai”. Nhưng rồi bài hát đầu tiên đó chỉ được em gái tôi hát. Chán quá! Có lẽ mình chỉ có năng khiếu chơi đàn chứ không có năng khiếu sáng tác. Mặc dù vậy, lúc nào tôi cũng muốn tự mình viết bài hát cho người khác hát.
Về sau, trên bước đường lưu lạc tôi đến Mỹ Tho. Ở đây tôi viết kịch được 2 vở. Vở Chung tình và vở Một ngày của bà đốc Huỳnh Mai được trình diễn tại nhà hát lớn thành phố PhnônPênh, trong lúc tôi dạy học ở Lycéum Khmer năm 1944. Nhìn cây đàn Măngđôlin, tôi tự nhủ: đúng là cây đàn nầy chẳng giúp ích gì cho mình. Đành phải bỏ nó sang viết kịch có lẽ tốt hơn. Nhưng tôi không sao xa được cây đàn và mỗi lần đánh đàn lên tôi nghe rạo rực trong lòng, như có cái gì đó đang quyến rũ tôi.
Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Tôi tham gia cách mạng tháng Tám vừa đúng tuổi hai mươi.
Tôi được đánh đàn Măngđôlin tại phòng tuyên truyền ở huyện Ô Môn, về sau ở Châu Đốc. Anh em nói: “Anh cứ chơi đàn cho hay, đồng bào nghe có đàn hát, họ sẽ tới nghe chúng ta nói chuyện đông hơn”. Tôi nghĩ: “Hóa ra cây đàn Măngđôlin của mình lúc này thật có ích”.
“Ông bạn Măngđôlin phiêu bạt phong trần bây giờ được trở về quê hương đóng góp phần mình cho cách mạng”. Tôi lại tập đàn say sưa hơn và từ đó đến nay, cây đàn Măngđôlin luôn luôn theo sát tôi như một người bạn thân thiết.
Tôi dùng đàn Măngđôlin để đánh lên những làn điệu xuất phát từ tâm hôn mình. Sở dĩ tôi nói như vậy là không phải cây đàn nầy cho tôi những đường nét giai điệu đẹp mà chính là phương tiện biểu hiện tâm tư tình cảm của tôi trước cuộc sống cách mạng. Vì thế tôi luôn trau dồi kỹ thuật đánh đàn để nó có sức biểu hiện trung thành với tầm hồn mình. Tất cả bài hát của tôi đều được tấu trên cây đàn Măngđôlin trước khi nó được trả về cho giọng hát. Tôi nghe bài hát trên cây đàn như nghe một người hát trước mặt tôi, nhờ vậy tôi tiếp tục nghiên cứu sửa chữa tác phẩm cho đến khi hoàn thành.
CON GÀ TRE
Tháng 9 năm 1945 tôi làm công tác tuyên truyền tỉnh Châu Đốc, tôi thường viết bài khêu gợi lòng căm thù giặc Pháp và cổ vũ tinh thần yêu nước của Nhân dân. Chiều chiều tôi đánh đàn Măngđôlin và đọc bài viết ở phòng tuyên truyền thị xã. Tôi đi khắp các xã của tỉnh để nói chuyện. Có lần đi vào làng đồng bào Hòa Hảo nơi hành dinh của thầy Tư Huỳnh Phú Sổ, tôi bước lên bàn nói chuyện trước 2.000 đồng bào súng gươm giáo mác chỉnh tề. Thầy thuốc Tứ, phó ban tuyên truyền tỉnh gọi tôi là Con gà tre vì tôi nói rất hăng, tác phong nhanh nhẹn xông xáo như con gà tre mà không sợ nguy hiểm đến tính mạng.
Đầu năm 1946, giặc Pháp trở lại tấn công đánh chiếm thị xã Châu Đốc, tôi và Tố Linh (lúc đó mới là người yêu 19 tuổi) rút về Tri Tôn. Băng qua Đốc Vàng, Đồng Tháp. Chúng tôi cùng công tác truyên truyền khu VIII với anh Bảo Định Giang. Được ít lâu, khu VIII bị tan rã, tôi và Tố Linh về Sài Gòn và tôi nhận vào công tác cho quân khu VIII với anh Trịnh Đình Hoa. Đến tháng 11/1947 tôi bị bắt tại đường Bonard (Bây giờ là Lê Thánh Tôn) lúc tôi đang đeo cây súng Col 9 bên hông trái và cây Col 12 bên hông phải. Chúng đưa tôi về bót Catinat rồi qua Phòng nhì ở đường Massige (bây giờ là đường Mạc Đỉnh Chi) và cuối cùng không khai thác tôi được gì, chúng lại đưa tôi nhốt vào hầm súng Phú Lâm. Tố Linh đi nuôi tôi mỗi ngày và có lần Tố Linh bị đồn Phú Lâm bắt giữ một buổi chiều. Được 3 tháng chúng phát hiện tôi tổ chức 175 tù chính trị vượt ngục, thằng Tây quan hai đến đánh tôi bể môi và khuya hôm đó, 140 anh chị em bị đày lên trại Cẩm Giang, có một nữ tù chính trị tên Hiếu 20 tuổi. Chúng lại phát hiện tôi vận động 6 khám tù chính trị nổi dậy, chúng đưa tôi lên khám lớn Tây Ninh. Được hai tháng chúng phát hiện tôi tổ chức giết lính để vượt ngục trong một buổi sáng đi đốn tre, chúng lại đưa 40 tù chính trị lên Tòa Thánh. Cũng may, lái xe người Pháp chưa biết Tòa Thánh nên đi quá Tòa Thánh nên nó phải lùi xe lại. Thừa cơ hội, tôi gọi 40 anh em nhảy xuống xe vào rừng Tây Ninh, 33 người chạy theo tôi còn 7 người sợ bị địch bắt lại nên chạy lạc vào hướng khác. Như vậy là tôi bị Pháp bắt cầm tù 6 tháng. Khi thấy báo Sài Gòn đăng tin 40 tù chính trị vượt ngục tại Tây Ninh, Tố Linh lập tức dời chỗ ở đi nơi khác. Lúc nầy. Thanh Thảo con gái đầu lòng của tôi sắp sửa chào đời…
Đoàn tàu vượt ngục đi vòng núi Bà Đen về Ty Công an Tây Ninh. Chúng tôi lại bị nhốt trong những túp lều lụp xụp ở cánh rừng gần Ty công an để điều tra xem có phải thật không hay là lính Cao Đài ngụy trang. Ngày thì có người đem cơm lại, tối đến chúng tôi nghỉ trên những tấm vạt tre xiêu vẹo. Bên tai tôi chim rừng hót líu lo nhiều âm điệu trầm bổng như những bản nhạc hòa tấu thiên nhiên. Muốn đàn Măngđôlin quá nhưng làm sao có đàn. Hơn nữa, số phận mình cũng chưa kịp biết ra sao? May mà tôi gặp anh Sáu Nữ là người quen khi tôi làm tuyên truyền tỉnh Châu Đốc năm 1945. Tôi được đưa về Ty Công an Tây Ninh, gặp lại Trưởng ty là anh Tấn người cùng quê Ô Môn. Xuân Hồng từ đâu đến chơi nghe anh Tấn nói tôi biết đàn Măngđôlin và Bănggiôlin khá lắm, Xuân Hồng kéo tôi về nhà một người bạn gái, cùng đi với Xuân Hồng có một người bạn trai. Xuân Hồng đưa tôi cây đàn Bănggiôlin mặt da còn mới. Lâu ngày không được chơi đàn, tôi mừng quá chơi liền mấy bài trước và sau Cách mạng tháng Tám; Xuân Hồng hát cho tôi đệm đàn, mọi người trong nhà rất thích. Mới hôm qua, đến Hội âm nhạc thành phố, Xuân Hồng nhắc lại chuyện xưa. Tôi mới biết người bạn gái đó là cô Hai Rùa ở bến Bưng Rò bên sông Vàm Cỏ Đông, thuộc xã Hòa Hội, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Còn người bạn trai cùng đi với Xuân Hồng tên là Minh Giang, nhưng vì anh ta mê cô Hai Trầu nên Xuân Hồng đặt tên là “Ba Cua Đinh”. Năm 1948 Xuân Hồng mới là một thanh nhiên 18 tuổi tên thật là Nguyễn Hồng Xuân. Đến khi sáng tác nhạc mới lấy bút danh là Xuân Hồng nên nhiều người hiểu lầm là con gái.
Còn tôi, sau hai tháng ở rừng Tây Ninh, anh Sáu Thiệt năm 1945 cùng công tác tuyên truyền với tôi ở Châu Đốc, nhận tôi về Đồng Tháp, làm việc ở Quốc vệ đội Sở công an Nam Bộ. (còn tiếp phần II: Bài hát đầu tiên và cuộc kháng chiến chín năm).
Thành phố Hồ Chí Minh
18-03-1987
Trần Kiết Tường
* Ghi chú: Tháng 05/2026 - Bài được Nguyễn Thị Lý - Trung tâm Dịch vụ Tổng hợp phường Ô Môn sưu tầm và đánh máy lại trong sách: Nhạc và đời/Lê Giang, Lư Nhất Vũ chủ biên.-Hậu Giang: Tổng hợp Hậu Giang,1989.-699tr.;21cm.
Tóm tắt sách Nhạc và đời: Cuộc đời, sự nghiệp âm nhạc của hơn 20 nhạc sĩ và những tác phẩm nổi tiếng từ những ngày đầu cách mạng đến nay. Trong đó có 04 Nhạc sĩ ở Ô Môn – Cần Thơ là: Lưu Hữu Phước, Trần Kiết Tường, Đắc Nhẫn, Triều Dâng.