VỞ CA KỊCH MỚI “VÌ TỔ QUỐC VÌ HÒA BÌNH”
Cuối năm 1953, tôi bán nhà ở Bà Kho lên dựng nhà ở ngã tư Ông Vèo, cũng trên kinh xáng Bảy Ngàn. Cuộc sống ngày càng vất vả. Cả nhà xuống ghe mui ống đến Đường Mây gặp vợ chồng anh Ba Hồ giới thiệu tôi trồng dưa hấu với mấy ông thầy đờn. Chưa cuối mùa nên tôi chỉ hái được dưa hườn hườn (dưa non) để nấu canh. Tôi qua Sóc Veng, huyện Gò Quau, ở đó có anh thầy giáo tổ chức cho tôi dạy đàn Măngđôlin. Lớp tôi được 40 học sinh, mỗi người đóng học phí 10 giạ lúa. Vậy là tôi có 40 ngàn trả nợ 40 giạ lúa cho anh Sáu Bá mà anh không bao giờ tin tôi có thể trả được. Lúc này Tố Linh chuẩn bị sinh đứa con trai của tôi là Thanh Bình tại nhà bảo sinh Sóc Veng. Tôi có anh bạn làm Chủ tịch huyện Gò Quao. Người ta quen gọi đó là Chủ tịch Khai (hiện làm Giám đốc trường Đại học Cần Thơ). Anh Bảy Khai rất nhiệt tình, tổ chức cho tôi đến xã Thủy Liễu nơi nhiều thanh niên nam nữ có năng khiếu nghệ thuật sân khấu và ca nhạc. Tôi đến Thủy Liễu viết vở ca kịch mới Vì Tổ quốc vì hòa bình (1954).
Vừa đi được 2 ngày thì Thanh Bình ra đời. Ở Thủy Liễu anh Bảy Khai đưa tôi đến từng gia đình tìm diễn viên. Tôi vừa viết vừa diễn tập có 10 ngày và vở ca kịch được trình diễn tại đinh Thủy Liễu dưới trời mưa đủ thấm áo. Hai ngàn người đứng xem trong mưa đến vãn. Đó là vở ca kịch mới đầu tiền của tôi xây dựng trên sân khấu cải lương. Nó được ra đời cùng thời điểm với mặt trận Xẻo Rô hưởng ứng chiến dịch Điên Biên Phủ ở miền Bắc.
Cuộc sống kháng chiến 9 năm ở miền Đông. Đồng Tháp và miền Tây Nam Bộ đã tạo cho tôi tình yêu quê hương, yêu những cánh đồng, những dòng sông, những con người thật thà, chất phác cùng những điệu lý điệu hò, hát ru hát nói mang tính cách Nam Bộ trong sáng, trữ tình, vui duyên dáng, đôi khi hài hước, dí dỏm, tưởng đâu là bình thường, nhưng những bài ca Nam Bộ sưu tầm và ghi âm được trong kháng chiến 9 năm và khi tập kết ra Bắc đã được in thành 2 tập Dân ca Nam Bộ (nhà xuất bản Văn hóa Hà Nội) phổ biến khắp trong nước và nước ngoài.
Chất liệu Dân ca Nam Bộ đó đã là vốn quý cho nhạc sĩ Việt Nam sáng tác ca khúc, nhạc không lời, nhạc phim, nhạc sân khấu, nhạc kịch. Nó cũng cung cấp tư liệu cho những công trình nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam. Cuộc sống đó có ảnh hưởng sâu sắc đến sáng tác của tôi trong tất cả các thể loại ca khúc, nhạc không lời, nhạc sân khấu.
Trong cuộc kháng chiến 9 năm, nhiều buổi tối tổ chức nói chuyện về cái hay cái đẹp của Bài ca vọng cổ. Cũng chính vì năm 1952 bài ca vọng cổ bị cấm, nói là ủy mị trong khi đánh đuổi kẻ thù nên có bài Nói thơ Bạc Liêu: đó là bài dân ca mới xuất hiện trong kháng chiến Nam bộ mang âm hưởng của nói thơ và làn điệu vọng cổ. Tôi cũng đã ghi âm và cho vào sách dân ca Nam bộ. Điệu nói thơ Bạc Liêu là chất liệu bài Trên quê hương Minh Hải của nhạc sĩ Phan Nhân. Năm 1969 nó là chủ đề âm nhạc cho một vở kịch của Nhạc sĩ Nga Anatôli Bứtsơcốp viết về miền Nam chống Mỹ cứu nước. Cũng là chủ đề những ca khúc nổi tiếng của các nhạc sĩ Việt Nam.
Cuộc sống kháng chiến 9 năm ở Nam bộ đã lưu lại trong tâm hồn tôi nhiều kỷ niệm không sao quên được. Chính cuộc sống đó là nguồn sáng tác phong phú cho sự nghiệp sáng tác của tôi khi tôi phải tạm xa để tập kết ra Bắc. Nhờ cuộc sống đó, nhờ hình tượng người con gái bên hàng dừa, tất nhiên là có hình ảnh của Tố Linh, mà tôi viết được bài hát Áo bà ba (1956); đoạn có 2 câu:
Tôi nhớ ai bên dòng nước xanh người áo trắng đi bên hàng dừa. Người yêu tôi mong chờ.
Và, những cánh đồng, những dòng sông, xóm làng miền Nam đau thương mây phủ chân trời dưới thời Mỹ ngụy, giọng hò Cần Thơ trên sông Tiền sông Hậu là hình ảnh sinh động trong bài hát Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người (1962). Đồng xanh mênh mông, dòng Cửu Long êm trôi. Rừng U Minh tươi mát màu lá là hình tượng trong bài hát Bài ca chiến thắng (1963). Giọng hát ầu ơ ru con của mẹ tôi đã mở đầu bài hát Quê hương ơi ta sẽ về (1962) (Còn tiếp phần IV: Tạm biệt quê hương - 20 năm trên miền Bắc)
T.P. Hồ Chí Minh
Ngày 18/3/1987
T.K.T
* Ghi chú: Tháng 05/2026 - Bài được Nguyễn Thị Lý -Trung tâm Dịch vụ Tổng hợp phường Ô Môn sưu tầm và đánh máy lại trong sách: Nhạc và đời/Lê Giang, Lư Nhất Vũ chủ biên.-Hậu Giang: Tổng hợp Hậu Giang,1989.-699tr.;21cm.
Tóm tắt sách Nhạc và đời: Cuộc đời, sự nghiệp âm nhạc của hơn 20 nhạc sĩ và những tác phẩm nổi tiếng từ những ngày đầu cách mạng đến nay. Trong đó có 04 Nhạc sĩ ở Ô Môn – Cần Thơ là: Lưu Hữu Phước, Trần Kiết Tường, Đắc Nhẫn, Triều Dâng.