ĐẮC NHẪN (III)

Thứ ba - 05/05/2026 06:02 148 0
Người con của xóm Rạch Điều (Nhạc sĩ kể chuyện đời mình - Phần III)
NHỮNG ĐOẠN ĐƯỜNG
          Đến năm 15 tuổi, tôi đi học nghề tập sự (École d’apprentissage) ở Rạch Giá. Cuối năm tôi được hưởng chế độ học bổng (Bourse Indochinoise). Và tôi được lên Sài Gòn học ở trường thực hành công nghệ, gọi tắt là P.I. (Pratique d’industrie). Ký giao kèo với nhà nước Pháp, nghĩa là sau khi tốt nghiệp thì trong 11 năm tôi phải chịu sự điều động công tác. Thời gian ở Sài Gòn tôi chịu ảnh hưởng của âm nhạc Pháp. nhất là các bài hát của Tino Rossi.
          Khi 19 tuổi, tôi đi dạy học ở Vĩnh Tuy. Tại đây, tôi đã chơi được đờn kìm hai mươi câu vọng cổ và các bản đờn thuộc hơi Bắc, Nam, Oán,… không những tôi chơi được đờn tranh, đờn cò mà còn đánh được Măngđôlin, Ghi ta và Viôlông nữa.
          Không hiểu sao, năm 21 tuổi tôi lại học tại trường Thể thao, gọi tắt là ELCJ (École locale des cadres de jeunesse). Bấy giờ tại Thủ Đức, phong trào thanh niên Ducouroix chịu ảnh hưởng nhạc hướng đạo sinh.
          Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Với tuổi 22 sôi nổi, tôi hăng hái nhập cùng đoàn người nổi dậy cướp chính quyền tại Phước Long. Ở Rạch Gòi (Cần Thơ) dân quân ta lấy được 12 súng lửa của Pháp. Tôi đã cưới vợ và sinh đứa con trai đầu lòng, nhưng bị thiếu tháng không nuôi được.
          Năm sau, tôi về quê vợ ở xã Vĩnh Tuy thuộc quận Gò Quao (Rạch Giá) sinh đứa con gái. Tại đây, đoàn ca kịch Sống Mới ra đời. Tôi gia nhập đoàn Truyên truyền xung phong khu IX. Thời gian nầy tôi viết các bài hát: Nhớ ơn cụ Hồ Chí Minh; Em bé bông gòn; Hạnh phúc; Xáp chiến; Nhắn về thành; Việt Nam nghìn dặm.
          Năm 1947 tôi về phụ trách âm nhạc Phòng chính trị Khu IX (Đại đội 2006). Đến năm 1948, theo đề nghị của Chính ủy khu IX, trong hai ngày tôi phải sáng tác xong bài Tầm Vu để kỷ niệm ngày Nam bộ kháng chiến và kỷ niệm chiến công của quân đội ta trong trận Tầm Vu mở màn cho thời kỳ tiêu diệt địch trên quy mô lớn. Tôi yêu cầu đồng chí Phan Trọng Tuệ cho anh Quốc Hương viết lời ca thì mới kịp. Đánh trận Tầm Vu lần này là lần thứ mấy rồi chớ đâu phải là lần đầu tiên. Đồn Tầm Vu có tầm quan trọng là đứng án ngữ chợ Rạch Gòi, một cửa ngõ đi vào Cần Thơ. Chung quanh đồn Tầm Vu không có chướng ngại vật nào để tự bảo vệ trong lúc chiến đấu. Mật độ súng cối và liên thanh của địch dày đặc. Đồng chí Huỳnh Phan Hộ đã hy sinh trong trận này. Viết bài hát Tầm Vu còn có một ý nghĩa khác nữa: kỷ niệm ngày sinh của khu trưởng Huỳnh Phan Hộ.
          Thức suốt một đêm, tôi viết xong phần nhạc bài Tầm Vu. Hôm sau, Quốc Hương viết xong lời hát. Chúng tôi ráp lại cùng sửa chữa cho hoàn tất. Anh Phan Trọng Tuệ gợi ý làm thế nào có tên Huỳnh Phan Hộ ở trong lời ca, do vậy, câu đầu bài Tầm Vu như sau:
          Hùng thay, Tầm Vu! Vang danh oai Huỳnh tướng quân!
          Năm 1949, Phòng chính trị dời về Ngang Trâu. Tôi được phong cấp sĩ quan và được kết nạp vào Đảng. Chúng tôi được phân công đi chiến dịch Sóc Trăng. Ra mặt trận lần này có Quốc Hương, nhà văn Phạm Anh Tài (Sơn Nam) và nhà thơ Hà Huy Hà (Kiên Giang).
CHIẾN DỊCH SÓC TRĂNG
          Xuất quân từ đầu hôm, trên đường ra mặt trận, tôi đã nghĩ ngay đến phần đầu của một bài hát. Đồn Ba Rinh bị ta vây hãm, dụ địch ra ngoài để ta đánh. Bọn địch cố thủ. Bộ đội ta dùng cây đại bác 105 ly lấy được trong trận Tầm Vu. Bắn sập nóc chuồng cu. Hôm sau, máy bay Pháp đến ném bom dữ dội. Tôi ẩn núp dưới hầm cá nhân sát đồn giặc đặng hoàn thành bài hát Ba Rinh trận địa.
          Chúng tôi được điều động áp sát đồn, đào công sự gấp rút. Tôi và Sơn Nam phải đào chung một cái hố mới kịp. Vừa đào xong thì máy bay địch tới ném bom. Hai đứa nhảy xuống hố thì bị ong đánh phải vội vã nhảy lên (té ra ong cũng sợ máy bay). Đạn bay ngang đầu chúng tôi nhưng Sơn Nam không chịu xuống hầm, còn giỡn:
          - Nên nghĩ ở trước mắt hơn là việc may rủi ở sau lưng.
Năm 1950, ta mở chiến dịch đánh Bảy Núi. Những cánh quân đều tập kết dưới chân núi Dài. Tôi theo cánh quân của trung đoàn 410. Đoàn chúng tôi chịu sự điều khiển của đồng chí Phạm Ngọc Thảo (sau này là nhân vật Nguyễn Thành Luân trong phim Ván bài lật ngửa). Đoàn chúng tôi bị lạc vào một bãi mìn, may mắn nhờ Phạm Ngọc Thảo dắt ra khỏi. Cánh quân chúng tôi bao vây đồn Vĩnh Trung suốt mấy ngày. Cuối cùng bọn địch ra đầu hàng. Vài ngày sau, các đồn bót ở tuyến đường này đều rút chạy. Chúng tôi bị đói mấy ngày liền, nhờ đồng bào để sẵn thức ăn ở các ngã ba đường, chúng tôi lấy lại sức và tiếp tục chiến đấu. Trong chiến dịch nầy, tôi viết bài Tình bảy núi và trình bày ngay cho đơn vị nghe.
          Năm 1951, bấy giờ chúng tôi là cán bộ Phòng chính trị Phân liên khu miền Tây. Một hôm, anh Nguyễn Him cho tôi mượn một tài liệu tổng kết hội nghị văn nghệ Việt Bắc, tôi bắt đầu có ý thức nghiên cứu nhạc cải lương, dân ca và sáng tác theo khuynh hướng dân tộc.
GIÃ TỪ CHẮC BĂNG
          Giữa năm 1954, tôi xuống Chắc Băng để chuẩn bị tập kết ra Bắc. Chắc Băng là tên của một người công chúa người Khmer, ngày nay đã trở thành địa danh. Nơi đây không có bóng giặc trong nhiều năm chống Pháp, có trường học, có trường thiếu sinh quân, cũng là nơi ra đời của nữ anh hùng Nguyễn Việt Hồng, Bà Chúa (Chắc Băng) đã từng nhấn chìm bao tàu giặc và đón chúng tôi trong vòng tay bảo vệ, chăm sóc, xây dựng những thế hệ anh hùng nối tiếp. Ngày nay, Bà Chúa dang tay đưa chúng rôi đi xây dựng cơ đồ để mai này chúng tôi sẽ trở về trang điểm cho Bà Chúa được lộng lẫy hơn bao giờ hết.
          Tàu há mồm đã cập bến hẹn. Sau khi từ giã gia đình, vợ con, bạn bè, tôi và con Mực cùng một bạn xóm giềng đến bãi hẹn. Đã đến giờ tàu há mồm tách bến, con Mực kêu lên mấy tiếng thống thiết rồi nhảy ào xuống nước, cố sức bơi lại chỗ tôi đứng, nhưng máy tàu đã nổ, nước cuốn ào ào, con Mực hoảng hốt quay vô bờ. Người bạn láng giềng bồng nó vô bờ, đưa 2 ngón tay hướng về phía tôi. Tôi lấy tay áo quệt nước mắt nhìn lên bờ lần cuối mà sao không thấy gì cả. Gió thổi ào ào, mưa bắt đầu trút nước. Trời tối đen như mực, chỉ còn nghe tiếng máy tàu chạy. Chúng tôi cố lắng nghe tiếng chó sủa dọc hai bờ sông, tiếng lá dừa xạc xào. Ôi, tiếng nói của quê hương xứ sở, tiếng dặn dò nhắn nhủ, gửi gắm niền tin của người ở lại,…
          Tôi đưa hai ngón tay lên trời giã từ Chắc Băng, giã từ Bà Chúa mà lòng đau như cắt. (còn tiếp phần cuối)
                                                                                                                                            Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                                                                                                   20-03-1987
                                                                                                                                                        Đ.N   

   * Ghi chú: Tháng 05/2026 - Bài được Nguyễn Thị Lý -Trung tâm Dịch vụ Tổng hợp phường Ô Môn sưu tầm và đánh máy lại trong sách: Nhạc và đời/Lê Giang, Lư Nhất Vũ chủ biên.-Hậu Giang: Tổng hợp Hậu Giang,1989.-699tr.;21cm.
   Tóm tắt sách Nhạc và đời: Cuộc đời, sự nghiệp âm nhạc của hơn 20 nhạc sĩ và những tác phẩm nổi tiếng từ những ngày đầu cách mạng đến nay. Trong đó có 04 Nhạc sĩ ở Ô Môn – Cần Thơ là: Lưu Hữu Phước, Trần Kiết Tường, Đắc Nhẫn, Triều Dâng.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
CẤP THẺ BẠN ĐỌC
GIA HẠN SÁCH
CHỦ TÍCH HỒ CHÍ MINH - SÁNG MÃI TÊN NGƯỜI
KHO SÁCH ĐIỆN TỬ - EBOOK
BÀI BÁO - TẠP CHÍ SỐ HÓA
BÀI BÁO - TẠP CHÍ SỐ HÓA SỐ HÓA VỀ CẦN THƠ
Tập Thông tin Chuyên đề
THÔNG TIN DU LỊCH VIỆT NAM
THÔNG TIN KINH TẾ ĐBSCL
THÔNG TIN NGÂN HÀNG THẾ GIỚI
PHÁT THANH: VĂN HÓA ĐỌC VÀ CUỘC SỐNG
CSDL TÊN ĐƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ
BẢN TIN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TP. CẦN THƠ
ẤN PHẨM XUÂN CẦN THƠ
THƯ VIỆN CƠ SỞ
<
logo gemini
logo zalo
logo fb
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây