ĐẮC NHẪN (II)

Thứ ba - 05/05/2026 05:57 130 0
Người con của xóm Rạch Điều (Nhạc sĩ kể chuyện đời mình - Phần II)
ÔNG TỔ ĐẠO TẶC 
          Rồi đến ngày hai chị em tôi chèo ghe đến kinh Tám Ngàn để mua lúa. Trời đã sáng mà lúa ở ruộng sâu chưa thấy chuyển về, tôi nhờ chị Sáu giải thích về ông tổ nghề ăn trộm. Chị Sáu chợt nhớ lại lời hứa và vui vẻ kể.
          Hồi xửa hồi xưa cứ đến mùa khô ở nông thôn vui lắm. Khi gặt lúa xong nông dân có lúa, có tiền. Các đoàn hát dạo gồm bốn, năm người, không phải như một đoàn lớn bây giờ đâu. Đó là những người chỉ biết nghề hát bội, có người lại cho là nghề hát chặp. Họ được đón rước và đối đãi tử tế. Khi mùa mưa đến, nông dân phải ra đồng làm ruộng, những người hát dạo phải ra thị trấn kiếm sống. Ở thị trấn có nhiều người nhà cao cửa rộng, có những con buôn chỉ biết kiếm tiền. Dưới con mắt của một số dân thị trấn thì nghề hát dạo được coi là phường xướng ca vô loại và bị xua đuổi. Do vậy, đoàn người hát dạo thường lâm vào cảnh đói rách, lúc mưa to gió lớn, họ phải chui vào miếu hoang để ngủ. Có một đoàn nọ cũng lâm vào cảnh ngộ tương tự, khi họ chui vào một cái miếu hoang để trú ngụ thì đụng đầu một tốp ăn cắp. Không ngờ anh chị em hát dạo được bọn ăn cắp tiếp đón niền nở và được chia của đồ ăn cắp cho họ.  Một tên trùm ăn cắp nói: “Tất cả đều được ăn đồng chia đủ, tiền của này là của bọn nhà giàu và bọn lái buôn. Anh chị em đừng ái ngại, hãy lấy đi”. Anh ta hớp một ngụm rượu ngồi cười ha hả, chỉ lên bàn thờ thần hoàng: “Đó, ông tổ chúng tôi là tông tổ ...đạo tặc”. Coi có giống Trịnh Ân của anh chị em không? Ông ta xấu xí nhưng rất tốt bụng. Tụi tôi nhờ ông mà mần ăn được khấm khá”.
          Những người hát dạo sống chung với cánh ăn cắp suốt trọn mùa mưa. Đến mùa khô, họ từ giã bạn bè làm nghề ăn cắp để trở lại nông thôn. Đoàn hát dạo ra đi lòng dạ bàng hoàng, nhớ đến lòng hảo tâm của bọn ăn cắp. Có phải chăng đó là cái lý do khiến cho họ thờ chung một ông tổ?!
          Câu chuyện nói trên có thể xảy ra ở một vùng nào đó, dần dần thành giai thoại. Chớ ngày nay, nghề hát xướng phát đạt. Đoàn hát sống trên ghe chài, đi đâu cũng có máy kéo không phải vất vả như trước. Bây giờ người ta thờ đến hai ông tổ được gọi là hai ông Làng hoặc hai ông Hoàng Tử. Là những người có quyền có thế và chức tước, hai ông được thờ ở mỗi nơi hết sức trang nghiêm, khói nhang nghi ngút. Mỗi lần khai sắc (tức trước khi ra sân khấu), đào kép khấn vái trước bàn thờ tổ, sau khi khấn xong, lấy một ít tro trên cây nhang đang cháy bỏ vô miệng đặng mong tổ phù hộ mình nhớ tuồng và hát hay.
          Nghe chị Sáu kể xong, tôi rất thích thú nhưng trong bụng vẫn còn nghĩ đến ông tổ Đạo Tặc và hai câu hỏi sau đây đã xâm nhập vào cảm nghĩ, suy tư của tôi mãi mãi: Lấy của ai và chia cho ai?
VỀ MỘT “NGHỆ SĨ DÂN GIAN”
          Khi gà gáy đợt chót, chị Sáu và tôi chèo chiếc ghe cà vom vào đập Rạch Điều để chở lúa. Nước lớn, chúng tôi sắp quẹo vào Rạch Điều thì thấy xa xa đi ngược lại một chiếc xuồng câu tôm. Người đàn ông bơi lại phía chúng tôi, sau lái có người đàn bà đầu quấn khăn. Chị Sáu tôi kêu lớn:
          - Chú Hai, chú có câu được nhiều tôm không?
          Chú Hai vịn tay vào be ghe. Chị Sáu tôi nằm nhánh bằng lăng gie ra từ trong bờ. Chú Hai đáp:
          - Ôi, làm gì có tôm! Tôi đang ngồi câu bên cạnh bụi tre trước nhà cô thì nghe tiếng hò lanh lảnh đi ngang qua. Ôi tiếng hò sao mà ngọt như đường. Tôi nhổ sào và bơi theo tiếng hò, hai bên đối đáp đến nửa đêm. Chiếc xuồng hò đậu lại vàm Kinh Đứng. Tôi bơi sát lại thì nghe một giọng phụ nữ nói: “Có phải trời xui nên duyên nợ thì em mời anh dừng lại đây để em ngỏ cùng anh đôi lời”.
          Ông Hai Khẹn nói tiếp:
          - Đã đính ước trăm năm rồi đó!
          Chị tôi quay lại nhìn người đàn bà đã tháo khăn từ lâu, người này nhìn chị tôi, vẻ thản nhiên:
          - Em ở chợ Ba Rích vào thăm chị ở Kinh Đứng thì gặp anh Hai đây!
          Tôi nhìn kỹ thấy người này đứng tuổi, nước da bánh ít, mái tóc đen và hơi gợn sóng phủ dài xuống lưng, miệng cười chúm chím để lộ mấy cái răng vàng.
          Chú Hai Khẹn tiếp tục bơi về phía Cầu Kinh. Chị tôi buông nhánh bằng lăng, ghe trôi theo chiều nước lớn đi thẳng vào Rạch Điều. Ghe đi ngang nhà cô Bảy Tiếng rồi tới đập Rạch Điều là nơi chở lúa.
          Trời mới hửng sáng, chị tôi ngồi trên bờ đập, nói với tôi:
          - Chú Hai Khẹn không có bà con gì với mình đâu. Ổng lớn tuổi nên gọi bằng chú. Ổng có tài hát đối nổi tiếng ở làng Thới Thạnh, đã có bảy tám đời vợ mà không có người nào ở lại với chú hết. Chú có tài hát hò, không mấy quan tâm lo cho ai hết, chú an phận chỉ biết lo cho mình thôi. Các bà vợ ở riết rồi cũng chán. Theo chị nghĩ, con người không chỉ vì sự nhàn hạ, sung sướng riêng cho mình mà còn phải nghĩ đến nhiều người khác nữa.
          Nghe giọng nói chị, tôi hơi run, tôi bèn hỏi:
          - Chị Hai, chị lại nghĩ đến cô Bảy Tiếng chớ gì?
          Chị tôi “triết lý”, giọng buồn buồn:
          - Cuộc sống như bông cà, bông bí, sớm nở tối tàn. Em còn nhỏ nên chưa hiểu con người rồi cũng tiêu ma thành cát bụi, chỉ có cái gì cao quý thì sống mãi mãi trong lòng người. Nghe đâu các cô gái ở Cầu Kinh đã bắt đầu chê chú Hai Khẹn rồi, Họ nói chú lúc nào cũng ê a khoe khoang mãi các điệu hò chẳng chịu làm ăn gì hết, chú chỉ mê hoặc được một số người ở xa thôi. Thảo nào các bà vợ không ở lâu được với chú. (Còn tiếp phần III)
                                                                                                                       Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                                                                               20-03-1987
                                                                                                                                     Đ.N   

* Ghi chú: Tháng 05/2026 - Bài được Nguyễn Thị Lý - Trung tâm Dịch vụ Tổng hợp phường Ô Môn sưu tầm và đánh máy lại trong sách: Nhạc và đời/Lê Giang, Lư Nhất Vũ chủ biên.-Hậu Giang: Tổng hợp Hậu Giang,1989.-699tr.;21cm.
     Tóm tắt sách Nhạc và đời: Cuộc đời, sự nghiệp âm nhạc của hơn 20 nhạc sĩ và những tác phẩm nổi tiếng từ những ngày đầu cách mạng đến nay. Trong đó có 04 Nhạc sĩ ở Ô Môn – Cần Thơ là: Lưu Hữu Phước, Trần Kiết Tường, Đắc Nhẫn, Triều Dâng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
CẤP THẺ BẠN ĐỌC
GIA HẠN SÁCH
CHỦ TÍCH HỒ CHÍ MINH - SÁNG MÃI TÊN NGƯỜI
KHO SÁCH ĐIỆN TỬ - EBOOK
BÀI BÁO - TẠP CHÍ SỐ HÓA
BÀI BÁO - TẠP CHÍ SỐ HÓA SỐ HÓA VỀ CẦN THƠ
Tập Thông tin Chuyên đề
THÔNG TIN DU LỊCH VIỆT NAM
THÔNG TIN KINH TẾ ĐBSCL
THÔNG TIN NGÂN HÀNG THẾ GIỚI
PHÁT THANH: VĂN HÓA ĐỌC VÀ CUỘC SỐNG
CSDL TÊN ĐƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ
BẢN TIN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TP. CẦN THƠ
ẤN PHẨM XUÂN CẦN THƠ
THƯ VIỆN CƠ SỞ
<
logo gemini
logo zalo
logo fb
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây